Yamaguchi Akane là gì? Chi tiết về Yamaguchi Akane mới nhất 2022

Yamaguchi Akane
山口茜
Akane Yamaguchi.jpg

Yamaguchi Akane tại giải Indonesia xuất hiện Super Series Premier 2015

Thông báo cá thể
Tổ quốc nước Nhật
Sinh 6 tháng sáu, 1997 (24 tuổi)
Katsuyama, Fukui, nước Nhật
Độ cao 1,56 m
Khối lượng 55 kg (121 lb)
Thuận tay Tay phải
Đơn nữ
Kỷ lục công danh sự nghiệp 277 thắng, 95 thua
Thứ hạng tốt nhất 1 (19 tháng bốn năm 2018)
Thứ hạng hiện nay 4 (21 tháng năm năm 2019)
Thông báo trên BWF

Đây là một tên người Nhật; trong tiếng Nhật họ and tên đc viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Yamaguchi.

Yamaguchi Akane (tiếng Nhật: 山口 茜; sinh ngày 6 tháng sáu năm 1997) là một chuyển động viên cầu lông người nước Nhật tranh tài ở content đơn nữ.[1] Cô là 1 trong các cá thể của đội cầu lông Kumamoto Saishunkan.[2] Yamaguchi giữ điểm đặt số 1 trong bảng xếp thứ hạng cầu lông đơn nữ của BWF vào trong ngày 19 tháng bốn năm 2018, là chuyển động viên nước Nhật thứ nhất giữ điểm đặt số một.[3]

Công danh và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Yamaguchi lọt được vào chung cuộc Giải vô địch cầu lông trẻ thế gới của BWF trong ba năm tiếp tục, giành huy chương bạc tại Giải vô địch cầu lông trẻ thế gới 2012 tại Chiba, nước Nhật and hai lần giành huy chương vàng, một lần vào thời điểm năm 2013 của BWF tại Bangkok, xứ sở của những nụ cười thân thiện Thái Lan and năm 2014 tại Alor Setar, Malaysia.[4]

Ở độ tuổi 16 tuổi 3 tháng, Yamaguchi biến thành tay vợt trẻ nhất từng giành chức vô địch trong 1 giải đấu thuộc BWF Super Series, vượt mặt kẻ thù đồng hương của cô là Uchida Shizuka trong trận chung cuộc nước Nhật Super Series 2013 ở nước Nhật. Đây là lần thứ nhất một tay vợt nữ người nước Nhật giành chức vô địch đơn nữ tại nước Nhật xuất hiện. Cô cũng là người nước Nhật thứ nhất vô địch tại nước Nhật xuất hiện.[5]

Sau thất bại trước Okuhara Nozomi tại tứ kết Thế vận hội Ngày hè 2016,[6] Yamaguchi đạt được thương hiệu Super Series thứ 2 của bản thân tại Korea xuất hiện, vượt mặt hạt giống số 5 Sung Ji-hyun.[7] Cô kế tiếp vô địch giải Đan Mạch giải phóng và mở rộng đc tổ chức triển khai tại Odense, biến thành nữ tay vợt thứ ba chưa hẳn người China từng giành hai chức vô địch super series tiếp tục trong 1 mùa giải. Những người dân từng có thành tích này là Tai Tzu-ying, Ratchanok Intanon and Tine Baun.

Trên đoạn đường đến thành công ở Đan Mạch, cô đã giành thành công trước nhà vô địch thế gới and huy chương vàng Olympic Carolina Marín trong 1 trận đấu ra mắt trong ba set, tương tự trong trận đấu với Okuhara Nozomi[6] người mà cô chưa lúc nào vượt mặt trước Thế vận hội.

Vào trong ngày 19 tháng bốn năm 2018, cô là người nước Nhật thứ nhất giữ điểm đặt số một ở content đơn nữ ở trên bảng xếp thứ hạng cầu lông thế gới.[8]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch cầu lông thế gới[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2018 Nhà tranh tài Thế vận hội Trẻ, Nam Kinh, China Ấn Độ Phường. V. Sindhu 16–21, 22–24 Đồng Đồng

Đại hội Thể thao châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2018 Istora Gelora Bung Karno, Jakarta, Indonesia Ấn Độ Phường. V. Sindhu 17–21, 21–15, 10–21 Đồng Đồng

Giải vô địch cầu lông châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2019 Nhà tranh tài Vũ Hán, Vũ Hán, China Trung Quốc He Bingjiao 21–19, 21–9 Vàng Vàng
2017 Wuhan Sports Center Gymnasium, Vũ Hán, China Đài Bắc Trung Hoa Tai Tzu-ying 21–18, 11–21, 18–21 Bạc Bạc

Đại hội Thể thao Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2013 Nhà tranh tài Tân Hải, Thiên Tân, China Trung Quốc Wang Shixian 21–19, 19–21, 16–21 Đồng Đồng

Thế vận hội Trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2014 Viện Thể thao Nam Kinh, Nam Kinh, China Trung Quốc He Bingjiao 24–22, 21–23, 17–21 Bạc Bạc

Giải vô địch trẻ thế gới[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2014 Sân chuyển động Sultan Abdul Halim, Alor Setar, Malaysia Trung Quốc He Bingjiao 14–21, 21–18, 21–13 Vàng Đồng
2013 Nhà tranh tài Huamark, Bangkok, xứ sở của những nụ cười thân thiện Thái Lan Nhật Bản Ohori Aya 21–11, 21–13 Vàng Vàng
2012 Chiba Port Arena, Chiba, nước Nhật Nhật Bản Okuhara Nozomi 12–21, 9–21 Bạc Bạc

Đại hội Thể thao Trẻ châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi nam nữ
Năm Khu vực Bạn bè Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2013 Viện Thể thao Nam Kinh,
Nam Kinh, China
Nhật Bản Koga Minoru Thái Lan Dechapol Puavaranukroh
Thái Lan Puttita Supajirakul
21–19, 19–21, 21–17 Vàng Vàng

Giải vô địch trẻ châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Khu vực Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2014 Nhà tranh tài Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Bắc Trung Quốc Trung Quốc Chen Yufei 21–11, 16–21, 21–13 Vàng Vàng
2012 Nhà tranh tài Gimcheon, Gimcheon, Nước Hàn Nhật Bản Okuhara Nozomi 19–21, 9–21 Đồng Đồng

BWF World Tour[sửa | sửa mã nguồn]

BWF World Tour, đc tổ chức triển khai vào trong ngày 19 tháng ba năm 2017 và đã được dùng vào thời điểm năm 2018,[9] là chuỗi các giải cầu lông đáng tin cậy đc Liên đoàn cầu lông thế gới (BWF) tổ chức triển khai. Những giải đấu của BWF đc phân thành sáu Lever, chi tiết là World Tour Finals, Super 1000, Super 750, Super 500, Super 300 (1 phần của HSBC World Tour), and BWF Tour Super 100.[10]

BWF Super Series[sửa | sửa mã nguồn]

BWF Super Series, đc khởi động vào trong ngày 14 tháng 12 năm 2006 và đã được dùng vào thời điểm năm 2007, là chuỗi các giải cầu lông đáng tin cậy, đc Liên đoàn cầu lông thế gới (BWF) tổ chức triển khai. BWF Super Series có hai Lever: Super Series and Super Series Premier. Một mùa giải Super Series có mười hai giải đấu trên khắp thế gới, đc tổ chức triển khai từ thời điểm năm 2011, trong số đó các chuyển động viên thắng lợi nhất nhập cuộc Super Series Finals đc tổ chức triển khai vào ở thời gian cuối năm.

Đơn nữ
Năm Giải đấu Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2017 Dubai World Superseries Finals Ấn Độ Phường. V. Sindhu 15–21, 21–12, 21–19 1 Vô địch
2017 Trung Quốc xuất hiện Trung Quốc Gao Fangjie 21–13, 21–15 1 Vô địch
2017 French xuất hiện Đài Bắc Trung Hoa Tai Tzu-ying 4–21, 16–21 2 Á quân
2017 Denmark xuất hiện Thái Lan Ratchanok Intanon 16–21, 21–14, 25–23[11] 2 Á quân
2017 Australian xuất hiện Nhật Bản Okuhara Nozomi 12–21, 23–21, 17–21 2 Á quân
2016 Denmark xuất hiện Đài Bắc Trung Hoa Tai Tzu-ying 19–21, 21–14, 21–12 1 Vô địch
2016 Korea xuất hiện Hàn Quốc Sung Ji-hyun 20–22, 21–15, 21–18 1 Vô địch
2015 nước Nhật xuất hiện Nhật Bản Okuhara Nozomi 18–21, 12–21 2 Á quân
2014 Trung Quốc xuất hiện Ấn Độ Saina Nehwal 12–21, 20–22[12] 2 Á quân
2013 nước Nhật xuất hiện Nhật Bản Uchida Shizuka 21–15, 21–19 1 Vô địch
     Giải đấu BWF Superseries Finals
     Giải đấu BWF Superseries Premier
     Giải đấu BWF Superseries

BWF Grand Prix[sửa | sửa mã nguồn]

BWF Grand Prix có hai Lever, Grand Prix and Grand Prix Gold. Đó là các giải đấu cầu lông đc Liên đoàn cầu lông thế gới (BWF) tổ chức triển khai từ thời điểm năm 2007.

     Giải đấu BWF Grand Prix Gold
     Giải đấu BWF Grand Prix

BWF International Challenge/Series[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn nữ
Năm Giải đấu Phe đối lập Tỷ số Hiệu quả
2013 Osaka International Nhật Bản Imabeppu Kaori 20–22, 16–21 2 Á quân
     Giải đấu BWF International Challenge
     Giải đấu BWF International Series

Đo lường công danh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Players: Akane Yamaguchi”. bwfbadminton.com. Badminton World Federation. Tàng trữ bản gốc ngày 28 tháng bốn năm 2017. Truy vấn ngày 17 tháng ba năm 2017.

  2. ^ “山口 茜”. www.saishunkan-badminton.jp (bằng tiếng Nhật). くまもと再春館製薬所バドミントンチーム. Tàng trữ bản gốc ngày 30 tháng ba năm 2018. Truy vấn ngày 31 tháng ba năm 2018.
  3. ^ “Akane Yamaguchi Becomes First Japanese Player lớn Achieve World Singles No. 1!”. Yonex. Tàng trữ bản gốc ngày 27 tháng sáu năm 2018. Truy vấn ngày 28 tháng sáu năm 2018.
  4. ^ “Worlds were not enough for national champion Yamaguchi”. www.badzine.net. Badzine.net. Tàng trữ bản gốc ngày 11 tháng năm năm 2017. Truy vấn ngày 17 tháng ba năm 2017.
  5. ^ “Akane Yamaguchi signals generational shift in women’s singles”. www.sportskeeda.com. Sportskeeda. Tàng trữ bản gốc ngày 17 tháng ba năm 2017. Truy vấn ngày 17 tháng ba năm 2017.
  6. ^ aă“Then & now: Akane Yamaguchi”. olympic.org (bằng tiếng Anh). 10 tháng một năm 2018. Tàng trữ bản gốc ngày 12 tháng sáu năm 2019. Truy vấn ngày 12 tháng sáu năm 2019.
  7. ^ “Akane Yamaguchi Wins Second Superseries Title at Korea xuất hiện”. yonex.com. Yonex. Tàng trữ bản gốc ngày 18 tháng ba năm 2017. Truy vấn ngày 17 tháng ba năm 2017.
  8. ^ “Akane Yamaguchi Becomes First Japanese Player lớn Achieve World Singles No. 1!”. yonex.com. Yonex. Tàng trữ bản gốc ngày 19 tháng bốn năm 2018. Truy vấn ngày 19 tháng bốn năm 2018.
  9. ^ “BWF Launches New Events Structure”. Badminton World Federation. ngày 29 tháng 11 năm 2017. Tàng trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2017. Truy vấn ngày 11 tháng ba năm 2018.
  10. ^ “Kích hoạt-Packed Season Ahead!”. Liên đoàn cầu lông thế gới. ngày 15 tháng một năm 2018. Tàng trữ bản gốc ngày 15 tháng một năm 2018. Truy vấn ngày 11 tháng ba năm 2018.
  11. ^ JagranJosh (2 tháng 11 năm 2017). Current Affairs November 2017 (bằng tiếng Anh). JagranJosh. tr. 171. Tàng trữ bản gốc ngày 12 tháng sáu năm 2019. Truy vấn ngày 12 tháng sáu năm 2019.
  12. ^ Manish Verma. Current Affairs Manual 2016 (bằng tiếng Anh). Diamond Pocket Books. tr. 315. ISBN 9789350830161. Tàng trữ bản gốc ngày 12 tháng sáu năm 2019. Truy vấn ngày 12 tháng sáu năm 2019.

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yamaguchi Akane tại BWF.tournamentsoftware.com
  • Kumamoto Saishunkan Badminton Team – Akane Yamaguchi
  • Yamaguchi Akane tại Sports-Reference.com Sửa tại Wikidata
  • 山口茜 Tàng trữ 2013-09-26 tại Wayback Machine Smash và Net TV選手名鑑

Bài Viết: Yamaguchi Akane là gì? Chi tiết về Yamaguchi Akane mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Thiên hạ ngũ tuyệt là gì? Chi tiết về Thiên hạ ngũ tuyệt mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.