Uyển Trinh là gì? Chi tiết về Uyển Trinh mới nhất 2022

Uyển Trinh
婉貞
Quang Tự Đế bổn sinh mẫu
《叶赫那拉婉貞》.jpg
Thông báo chung
Phối ngẫu Dịch Hoàn
Hậu duệ
Thụy hiệu
Nhà vua Bổn sinh tỷ
(皇帝本生妣)
Tước hiệu [Thuần Hiền Thân vương Đích phi; 醇賢親王嫡妃]
Phụ thân Huệ Trưng
Thân mẫu Phú Sát thị
Sinh (1841-09-13)13 tháng chín năm 1841
Mất 19 tháng sáu năm 1896(1896-06-19) (54 tuổi)
Bắc Kinh, Đại Thanh

Uyển Trinh (chữ Hán: 婉貞; 13 tháng chín năm 1841 – 19 tháng sáu năm 1896), Na Lạp thị, còn gọi là Thuần Hiền Thân vương phi (醇賢親王妃), Vương phi của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn, là mẹ đẻ của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế, cùng theo đó bà cũng là em gái ruột của Từ Hi Thái hậu.

Tuy là mẹ ruột của 1 Nhà vua, Uyển Trinh không được coi là Đế mẫu chính thức, chính vì Quang Tự Đế trên pháp luật biến thành con thừa tự của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Vấn đề đó cũng minh chứng qua việc Thuần Hiền Thân vương ngoài được coi là sinh phụ của Nhà vua, cũng không tồn tại gia tôn hay biệt đãi nào khác.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Uyển Trinh xuất thân từ Diệp Hách Na Lạp thị, là con gái thứ 2 của Huệ Trưng (惠徵), một quan lại người Mãn, cư trú ở Tây Tứ bài lâu (này là Tây Thành, Bắc Kinh). Ngày 28 tháng bảy (âm lịch), năm Đạo Quang thứ 21 (1841), giờ Tuất ra đời.

Cũng tương tự chị gái là Từ Hi Thái hậu, Uyển Trinh đc cho là con cái Diệp Hách bối lặc Kim Đài Cát, nhưng sự thực tuyệt đối chưa hẳn như thế. Cứ theo Đức Hạ Nột Thế quản tá lĩnh tiếp tập gia phổ (德贺讷世管佐领接袭家谱) tại Nước Trung Hoa đệ nhất lịch sử vẻ vang đương án quán (中国第一历史档案馆), thì ông bà tổ tiên của bà đc gọi là Khách Sơn (喀山), thế cư Tô Hoàn, mang họ Na Lạp thị, cho nên vì vậy nguyên bản phải đc gọi là Tô Hoàn Na Lạp thị (甦完那拉氏) mới đúng đắn. Mà Tô Hoàn tiền ở phía trong chủ quyền Diệp Hách, nên vài đời sau cứ lấy thế cư Diệp Hách, chia thành ra “Diệp Hách Na Lạp thị” ngộ nhận[1][2][3].

Năm Hàm Phong nguyên niên (1851), chị cả của bà nhập cung biến thành Quý nhân của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Sau khoản thời gian Lan Quý nhân đc tấn phong Ý Quý phi, để củng cố mối quan hệ ngoại tộc Ná Lạp thị với dòng dõi Ái Tân Giác La, Ý Quý phi gợi nhắc Hàm Phong Đế ban hôn em gái Uyển Trinh and một thiếu nữ khác là Nhan Trát Thị (顏扎氏), con gái của Lai Phúc (來福) cho Thuần Q vương Dịch Hoàn, em trai cùng cha khác mẹ của Hàm Phong.

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), Dịch Hoàn nhận ý chỉ thành hôn, ở Vương phủ Uyển Trinh là bà xã cả của Dịch Hoàn nên đc phong Phúc tấn, còn Nhan Trát Thị phong làm Trắc Phúc tấn. Năm thứ 11 (1861), Nhan Trát Thị sinh con gái trưởng cho Thuần Q vương rồi qua đời, Uyển Trinh nuôi Tiểu Cách thức cách thức đến 5 tuổi thì yểu mệnh. Cùng năm này Hàm Phong Đế băng hà, truyền ngôi cho thiếu niên duy nhất là Hoàng trưởng tử Tải Thuần (載淳), tức Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế.

Chị gái của Uyển Trinh, mẹ đẻ của Tân đế biến thành Hoàng thái hậu, tức Từ Hi Thái hậu. Trong năm đầu, nghĩa vụ và quyền lợi của Từ Hi Thái hậu rất giảm bớt do sự sinh tồn của Từ An Thái hậu. Năm Đồng Trị thứ 4 (1865), Uyển Trinh sinh thiếu niên đầu đặt tên Tải Hãn (載瀚) tuy vậy được một tuổi thì chết yểu. Năm thứ 10 (1871), Uyển Trinh lại sinh thiếu niên thứ, đặt tên Tải Điềm. Năm thứ 11 (1872), Dịch Hoàn đc phong [Thuần Thân vương; 醇親王]. Sang năm Đồng Trị thứ 13 (1874), Thuần Thân vương bị Đồng Trị Đế nhận định là khả năng kém cỏi, đuổi khỏi triều đình tuy vậy mau lẹ phục chức do có sự can thiệp của Từ Hi Thái hậu.

Thiếu niên làm Nhà vua[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đồng Trị thứ 14 (1875), Đồng Trị Đế băng hà, không con nối dõi. Từ An Thái hậu and Từ Hi Thái hậu ra chiếu chọn Tải Điềm vào cung kế vị, tức Thanh Đức Tông Quang Tự Đế. Từ đó, Quang Tự Đế mang danh nghĩa thừa tự Hàm Phong Đế, là em thừa tự của Đồng Trị Đế.

Sự chọn lựa này tương truyền do Từ Hi Thái hậu chính sách, bản thân ra quyết định đó cũng mang về nhiều ưu thế cho Từ Hi Thái hậu: thứ nhất, Tái Điềm là cháu ruột của bà; thứ 2, Dịch Hoàn là một Hoàng tử không có khá nhiều quyền lực; thứ ba, Tải Điềm còn rất bé dại nên Thái hậu vẫn bắt buộc phải liên tiếp nhiếp chính cho Nhà vua, như thế sẽ đơn giản dễ dàng thao túng về mặt chính trị. Trên thực tiễn, khi đó bối tự chữ [“Phổ”] chỉ chứa một người mà còn quá bé dại, đã không còn lấy làm con kế tự cho Đồng Trị Đế, cho nên vì vậy triều đình của hai vị Thái hậu mới chọn Tải Điềm, người dân có xuất thân gần hơn thế nữa đủ to mà cũng đủ bé dại để hai vị Thái hậu tiện việc giáo dục. Cảm thấy trước mai sau của Tân đế, Thuần Thân vương Dịch Hoàn từng tỉ ti tự hành hạ mình suốt mấy ngày. Thời khắc này Uyển Trinh mệt mỏi tới cả sinh con thứ ba bị chết yểu chỉ trong 1 ngày, không kịp đặt tên.

Năm Quang Tự thứ 6 (1880), Uyển Trinh lại sinh thiếu niên thứ tư, đặt tên Tải Hoảng (載洸) nhưng cũng qua đời năm 4 tuổi. Tính từ lúc đó bà không sinh thêm lần nữa. Trong năm này, dù là mẹ ruột của Nhà vua nhưng bà vẫn rất giữ kẽ. Dù bà là [“Đế bổn sinh mẫu”], tuy vậy thực thế về mặt pháp luật, Quang Tự Đế đã là con thừa tự của Hàm Phong Đế (chữ Hán gọi các vị này là Tự tử; 嗣子), vì thế dù Quang Tự Đế có là Nhà vua đi nữa, vẫn chưa được phép gia tôn huy hiệu cho phụ huynh ruột.

Năm Quang Tự thứ 12 (1886), Từ Hi Thái hậu thưởng cho bà một cái kiệu “Hạnh hoàng kiệu” (杏黃轎) để di chuyển và đi lại trong Nội đình, nhưng bà vẫn không sử dụng[4][5].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

250px %E9%86%87%E4%BA%B2%E7%8E%8B%E7%A6%8F%E6%99%8B%E5%90%88%E5%BD%B1

Thê thiếp của Dịch Hoàn. Bên trái là Đích Phúc tấn Uyển Trinh

Năm Quang Tự thứ 16 (1890), Thuần Thân vương Dịch Hoàn qua đời, thiếu niên của ông với Thứ Phúc tấn Lưu Giai Thị (劉佳氏) là Tải Phong, cha ruột của Nhà vua Phổ Nghi trong tương lai, thừa hưởng tước [Thuần Thân vương].

Năm Quang Tự thứ 22 (1896), tháng bốn, mùa hạ, Phúc tấn bệnh nguy, Quang Tự Đế cùng Thái hậu đến thăm[6], sang ngày 8 tháng năm (âm lịch), giờ Thần, Phúc tấn qua đời, hưởng dương 55 tuổi, truy bộ quà tặng kèm theo Nhà vua Bổn sinh tỉ (皇帝本生妣), nghỉ triều 11 ngày[7]. Phái ĐH sĩ Côn Cương (崑岡), Lễ bộ Thượng thư Hoài Tháp Bố (懷塔布), Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Văn Lâm (文琳) cùng Công bộ Hữu Thị lang Anh Niên (英年) giải quyết tang nghi[8].

Theo nhật ký của Phổ Nghi, vị Nhà vua sau cùng của nhà Thanh, Uyển Trinh là một người thiếu nữ đấm đá bạo lực, luôn lớn tiếng quát tháo, đánh đập người hầu trong phủ gồm cả con đẻ, con kế của chính mình. Thuần Thân vương Tải Phong còn tiết lộ rằng một trong những 3 người con yểu mệnh của bà chết vì kém dinh dưỡng do bị bỏ đói lâu ngày[9].

Bản thân Từ Hi Thái hậu cũng biểu đạt Quang Tự “từ bé dại đã ốm yếu, tì vị hư nhược[10], lúc vào Tử Cấm Thành để lĩnh chỉ nối ngôi cũng đã không còn tự đi, phải có một số người ẵm. Từng ngày ngự thiện phòng chuẩn bị sẵn sàng mấy chục đồ ăn tuy vậy đều chưa phù hợp khẩu vị của Tiểu Nhà vua. Dường như phụ vương mẫu không để tâm đến chính sách dinh dưỡng”.[11]

Bài viết liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quang Tự
  • Từ Hi Thái hậu
  • Hàm Phong
  • Dịch Hoàn

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 德宗本纪一.见:赵尔巽等.清史稿,1928
  2. ^ 后妃列传.见:赵尔巽等.清史稿,1928
  3. ^ 《玉牒》甲册第44页
  4. ^ 《清實錄‧德宗景皇帝實錄》,卷225。
  5. ^ 徐珂,《清稗類鈔》,恩遇類,〈孝欽后賜醇王福晉杏黃轎〉。
  6. ^ 據《清實錄‧德宗景皇帝實錄》記載,光緒二十二年四月下旬起,光緒皇帝四度前往醇賢親王府探視醇賢親王福晉。
  7. ^ 《清實錄‧德宗景皇帝實錄》,卷390,曰:「朕欽奉皇太后懿旨、皇帝本生母醇賢親王嫡福晉葉赫那拉氏,宅心和厚,秉性堅貞,百度罄宜,六親咸仰,洵足佐賢王之內治,垂彤管之儀型。深宮誼篤懿親,特隆恩禮,而福晉每懷謙挹,謹慎有加。頃因肝疾日增,寢食頓減,屢次率同皇帝臨邸看視,慰問再三。方期藥餌奏功,遐齡克享,乃竟於本月初八日辰刻,奄然長逝。撫今追昔,摧悼良深。著賞給陀羅經被,即日親往賜奠,皇帝詣邸成服行禮。」
  8. ^ 《清實錄‧德宗景皇帝實錄》,卷390。
  9. ^ Puyi (1989), pp. 23-24.
  10. ^

    “Thực sự về nhà vua Quang Tự”.

  11. ^ Der Ling (1929), p. 252.

Bài Viết: Uyển Trinh là gì? Chi tiết về Uyển Trinh mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Nước bề mặt là gì? Chi tiết về Nước bề mặt mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.