Sông Nin là gì? Chi tiết về Sông Nin mới nhất 2022

Sông Nin
Egypt Nil.jpg
Vị trí
Đất nước Ai Cập, Sudan, Uganda
Đặc điểm địa lý
Thượng nguồn Uganda and Ethiopia
 • cao độ 1.134 m (3.721 ft)
Cửa sông Ai Cập

 • cao độ

0 m (0 ft)
Độ dài 6.650 km
Diện tích lưu vực 3.400.000 km² (1.312.740 dặm²)
Lưu lượng 2.830 m³/s (99.956 ft³/s)

Sông Nin hoặc Nile (tiếng Ả Rập: النيل, an-nīl, tiếng Ai Cập cổ đại: iteru hay Ḥ’pī – có nghĩa là sông to), là con sông thuộc châu Phi, là sông chính của địa điểm Bắc Phi, thường được đánh giá là dòng sông dài nhất trên thế gới,[1] với chiều dài 6.853 km and đổ nước vào Địa Trung Hải, thế nhưng có một trong những nguồn khác dẫn điều tra nghiên cứu trong năm 2007 nhận định rằng sông này chỉ dài thứ 2 sau sông Amazon ở Nam Mỹ[2]. Sông Nin đc gọi là sông “nước ngoài” vì lưu vực của chính bản thân nó bao trùm 11 nước nhà gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, Sudan and Ai Cập.[3]

Sông đó còn đc người Việt phiên âm là Nhĩ Lô như trong sách Tây hành hồi ký của Phạm Phú Thứ.

Đây là con sông có tác động nhất ở châu Phi, gắn sát với việc dựng nên, trở nên tân tiến and lụi tàn của rất nhiều quốc gia cổ đại, đóng góp thêm phần tạo hình thành nền Tiến bộ sông Nin.

Những đoạn sông[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Kagera đổ dồn vào hồ Victoria gần thị xã Bukoba của Tanzania là nguồn thỏa mãn nhu cầu nước dài nhất, dù rằng những nguồn dữ liệu khác biệt không công nhận nó là nhánh dài nhất and cho nên vì thế nó là nguồn xa nhất của sông Nile.[4] Nguồn hoặc là Sông Ruvyironza từ tỉnh Bururi, Burundi,[5] hoặc Nyabarongo chảy từ rừng Nyungwe ở Rwanda.[6] Hai nguồn thỏa mãn nhu cầu này gặp nhau tại thác Rusumo tại ranh giới của Rwanda-Tanzania.

Năm 2010, một đội nhóm điều tra[7] đã đi vào đây biểu đạt về nguồn của nhánh Rukarara,[8] and đi theo một tuyến phố trên sườn núi đã tìm cảm thấy (trong đợt khô) nguồn nước mặt lòi ra chảy nhiều dặm ở phía thượng lưu, và cũng đã tìm cảm thấy nguồn mới, cho nên vì thế chiều dài sông Nin là 6.758 km. Vịnh Gish được coi là Vị trí có “nước thánh” có giọt thứ nhất của sông Nin.[9]

Nin Trắng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sông Nin Trắng

230px Nile

Maps Đông Bắc Châu Phi, có chỉ nguồn sông Nin

Sông Nin có hai nguồn chính, quan trọng nhất là sông Nin Trắng khởi nguồn từ vùng xích đạo Đông Phi, rồi đến sông Nin Xanh khởi nguồn từ Ethiopia. Hồ Victoria, nằm trong lòng Uganda, Kenya and Tanzania, được coi là Vị trí bắt nguồn của con sông này.

Nin Xanh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sông Nin Xanh

Sông Nin Xanh khởi nguồn từ Hồ Tana trên vùng cao nguyên của Ethiopia. Dòng Nin Xanh chảy đc khoảng tầm 1.400 km (850 dặm) tới Khartoum thì hai dòng Nin Xanh and Nin Trắng gặp nhau, hợp lưu tạo cho sông Nin. Đông đảo nguồn nước của sông Nin đc thỏa mãn nhu cầu từ Ethiopia, chiếm khoảng tầm 80-85% lưu lượng nương tựa vào vũ lượng. Mùa mưa ăn khớp với mùa nắng nóng khi nhiều cơn mưa rào trút xuống, góp nước cho sông Nin.

Dòng Nin[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn sông Nin ở phía Bắc hầu hết chảy qua sa mạc. Đông đảo dân cư Ai Cập, ngoại trừ một số người ven bờ biển, sống chạy dọc theo kè sông Nin xuất phát điểm từ hướng bắc TP Aswan. Di tích lịch sử nền tân tiến Ai Cập cổ đại cũng tập trung chuyên sâu chạy dọc theo phía 2 bên kè sông Nin. Con sông Nin còn là huyết mạch giao thông vận tải nhất là vào mùa lũ, khi mà những phương tiện đi lại đường đi bộ đã hết vận động và di chuyển đc.

Lưu vực sông Nin[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu vực sông Nin chiếm khoảng tầm 1/10 diện tích quy hoạnh châu Phi là Vị trí trở nên tân tiến and tàn lụi của rất nhiều nền tân tiến cổ đại. Người dân phía 2 bên kè sông Nin là 1 trong các các nhóm người thứ nhất biết trồng trọt, làm NNTT and dùng cày. Lưu vực sông Nin đc số lượng giới hạn ở phía Bắc bởi biển Địa Trung Hải, phía Đông bởi dãy Biển đỏ (Red Sea Hills) and Cao nguyên Ethiopia, phía Nam bởi cao nguyên Đông Phi, trong những số ấy có gồm có hồ Victoria là 1 trong các 2 nguồn của sông Nin, phía Tây tiếp giáp với lưu vực sông Chad, sông Công gô and trải dài xuống Tây-nam đến dãy Marrah thuộc Sudan [10]

Lịch sử hào hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Nin với nguồn nước dồi dào đã tạo ra vùng Thung lũng đa dạng nhất “châu lục đen”. Nó đã đóng góp thêm phần không hề nhỏ đến việc dựng nên nền tân tiến Ai Cập cổ đại, với các kim tự tháp kỳ vĩ. Sông Nin đã tác động to tới nền văn hoá Ai Cập cổ ngay từ thời buổi đồ đá, khi mà sa mạc Sahara đang càng ngày càng xâm lấn sang phía Đông của châu lục châu Phi.

Sông Nin khởi nguồn từ hồ Victoria tại khu vực xích đạo có mưa quanh năm nên cơn mưa khá to. Tới Khác-tum sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh tại khu vực cận xích đạo, lưu lượng làm nên không hề nhỏ, mùa nước lũ lên đến 90 000 m³/s; đến biên giới Ai Cập dù rằng sông Nin chảy giữa miền hoang mạc and không sở hữu và nhận đc thêm phụ lưu nào nữa, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi mạnh, gần biển lưu lượng nước giảm nhiều nhưng ở Cai-rô (Ai Cập) về mùa cạn lưu lượng vẫn còn đó 700 m³/s.

Mâu thuẫn tranh chấp về nước[sửa | sửa mã nguồn]

Nước sông Nin tác động tới các thể chế chính trị Đông Phi and Sừng châu Phi trong không ít thập kỷ. Những nước nhà gồm Uganda, Sudan, Ethiopia and Kenya đã phàn nàn về việc Ai Cập ách thống trị nguồn khoáng sản nước. Ý tưởng sáng tạo lưu vực sông Nin thôi thúc hợp tác và ký kết tự do giữa những nước.[11][12]

Nhiều cố gắng đã đc triển khai nhằm mục tiêu thiết lập cấu hình các thỏa thuận hợp tác san sẻ nước sông Nin giữa những nước nhà này. Nhưng rất vất vả để đã có được thỏa thuận hợp tác của tổng thể những nước nhà trên về quyền lợi của mình and các lạ mắt về chính trị, kế hoạch and thế giới. Ngày 14 tháng năm năm 2010 tại Entebbe, Uganda, Ethiopia, Rwanda, Tanzania and Uganda đã ký kết một thỏa thuận hợp tác mới về san sẻ nước sông Nin dù rằng thỏa thuận hợp tác này chịu sự phản đối mạnh bạo của Ai Cập and Sudan. Lý tưởng nhất, các thỏa thuận hợp tác như vậy này nhằm mục tiêu thôi thúc việc dùng kết quả and công bình nguồn khoáng sản nước lưu vực sông Nin. Còn nếu như không có sự làm rõ hơn về sự sẵn có của nguồn khoáng sản nước sau này của sông Nin, thì sẽ có rất nhiều cuộc xung đột giữa những nước nhà phụ thuộc vào nguồn cấp nước, trở nên tân tiến kinh tế tài chính and thế giới từ sông Nin.[13]

Khai phá tiến bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thám hiểm Nin trắng, đứng vị trí số 1 bởi Hendrik Coetzee Nam Phi, biến thành người thứ nhất định vị chiều dài tổng thể của sông Nin. Cuộc thám hiểm nguồn của sông Nin ở Uganda vào trong ngày 17 tháng một năm 2004 and đến Địa Trung Hải ở Rosetta một phương thức an toàn và đáng tin cậy, trong khoảng 2 tháng rưỡi.[14]

Vào 28 tháng tư năm 2004, nhà địa chất học Pasquale Scaturro and tập sự của ông, kayaker and nhà làm phim dữ liệu Gordon Brown đã biến thành người thứ nhất cam đoan sông Nin Xanh, từ hồ Tana ở Ethiopia tới các bãi tắm biển thuộc Alexandria ở Địa Trung Hải. Mặc dầu chuyến thám hiểm gồm đa số người khác, nhưng Brown and Scaturro là những người dân duy nhất hoàn thiện tổng thể cuộc hành trình dài.[15] Nhóm điều tra nghiên cứu dùng động cơ rời cho hầu như cuộc hành trình dài.

Bức Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Nile River”. Encyclopædia Britannica.

  2. ^ Amazon Longer Than Nile River, Scientists Say
  3. ^ Oloo, Adams (2007). “The Quest for Cooperation in the Nile Water Conflicts: A Case for Eritrea” (PDF). African Sociological Bình chọn. 11 (1). Truy vấn ngày 25 tháng bảy năm 2011.
  4. ^ McLeay, Cam (ngày 2 tháng bảy năm 2006). “The Truth About the Source of R. Nile”. New Vision. Bản gốc tàng trữ ngày 9 tháng tư năm 2011. Truy vấn ngày 31 tháng tám năm 2011.
  5. ^ “Nile River”. Truy vấn ngày 5 tháng hai năm 2011.
  6. ^ “Team Reaches Nile’s ‘True Source”. Đài truyền hình BBC News. ngày 31 tháng ba năm 2006. Truy vấn ngày 4 tháng tư năm 2011.Quản lý điều hành CS1: ref=harv (kết nối)
  7. ^ Described in Joanna Lumley’s Nile, 7 pm lớn 8 pm, ITV, Sunday ngày 12 tháng tám năm 2011.
  8. ^ “Journey lớn the source of the Nile”. Telegraph. Truy vấn ngày 6 tháng chín thời điểm năm 2012.
  9. ^ “Next on Egypt’s lớn”. Truy vấn 8 tháng hai năm 2015.
  10. ^ “Nile River river, Africa”. Encyclopedia Britannica. Truy vấn 8 tháng hai năm 2015.
  11. ^ “The Nile Basin Initiative”. Bản gốc tàng trữ ngày 27 tháng sáu trong năm 2007. Truy vấn ngày 29 tháng 12 năm trước đó.
  12. ^ Cambanis, Thanassis (ngày 25 tháng chín năm 2010). “Egypt và Thirsty Neighbors Are at Odds Over Nile”. Thành Phố New York Times. Truy vấn ngày 25 tháng chín năm 2010.
  13. ^ Mohamed Helmy Mahmoud Moustafa Elsanabary“Teleconnection, Modeling, Climate Anomalies Impact và Forecasting of Rainfall và Streamflow of the Upper Blue Nile River Basin”. Canada: University of Alberta. 2012. Truy vấn ngày 23 tháng một thời điểm năm 2012.
  14. ^ National Geographic released a feature film about the expedition in late 2005 entitled The Longest River.
  15. ^ Scaturro và Brown chronicled their adventure with an IMAX camera và two handheld Clip cams, sharing their story in the IMAX film Mystery of the Nile và in a book of the same title.

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thông báo and maps của lưu vực sông Nin Tàng trữ 2005-03-05 tại Wayback Machine
  • Lịch sử hào hùng and địa chất về sông Nin Tàng trữ 2006-05-09 tại Wayback Machine
  • Đồng bằng ven biển sông Nin nhìn từ khoảng trống
  • Những dữ kiện về sông Nin
  • Cổ địa lý học sông Nin Tàng trữ 2009-01-04 tại Wayback Machine

Bài Viết: Sông Nin là gì? Chi tiết về Sông Nin mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Hệ thống PGS là gì? Chi tiết về Hệ thống PGS mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.