Người Êđê là gì? Chi tiết về Người Êđê mới nhất 2022

Anak Êđê hay Anak Raday
Dan toc hoc 19.jpg

Nhà dài Êđê tại kho lưu trữ bảo tàng dân tộc bản địa học

Tổng cộng dân
402.100 @2019[1] – 550.000 người
Địa điểm có số dân đáng chú ý
Nước ta, Campuchia, Đất nước Hoa Kỳ, Canada and những nước Bắc Âu
23px Flag of Vietnam.svg Nước ta 398.671 @2019 [2]
23px Flag of Cambodia.svg Campuchia 3.100[1]
23px Flag of Thailand.svg Vương Quốc của nụ cười 1.000[cần dẫn nguồn]
23px Flag of the United States.svg Đất nước Hoa Kỳ 30.000[cần dẫn nguồn]
23px Flag of France.svg Pháp 1.000[cần dẫn nguồn]
Ngôn từ
Êđê, Việt, Khmer, Lào, Vương Quốc của nụ cười, Pháp
Tôn giáo
Tin Lành chiếm hơn 70% số lượng dân sinh Ê Đê đa số hệ phái Evangelcalism (Tin Lành) của Protestanism ( Kháng Cách thức), thuyết vật linh, Phật giáo and
Công giáo La Mã.
Sắc tộc có ảnh hưởng
Utsul, Gia Rai, Chăm, Ra Glai, Chu Ru, Mã Lai, Indonesia, Philippines, Brunei, Hồi giáo miền Nam Vương Quốc của nụ cười

Người Êđê (tiếng Êđê: Anak Radaya thường dùng thông dụng theo thế gới là Anak Đê hay Đê-Ga) là một dân tộc bản địa có vùng cư trú truyền thống cuội nguồn là miền trung bộ Nước ta and hướng đông bắc Campuchia.

Tại Nước ta người Ê Đê đc công nhận trong các 54 dân tộc bản địa tại Nước ta.[3][4] Theo trang Joshua Project tổng dân rất nhiều người Ê Đê năm 2019 là 402 ngàn con người, cư trú đa số tại Nước ta and Campuchia.[1]

Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê, một ngữ điệu thuộc phân nhóm ngữ điệu Chăm thuộc ngữ chi Malay-Polynesia của ngữ hệ Nam Hòn đảo. Người Ê Đê thuộc đội chủng tộc Austronesia.

Trước năm 1975, tại miền nam bộ Nước ta, trong văn bản hành chính của Nước ta Cộng hoà, người Ê Đê đc gọi là người Raday (Rhade). Theo dữ liệu của Ủy ban Dân tộc bản địa Chính phủ nước nhà Nước ta dân rất nhiều người Ê Đê đo đạc ngày thứ nhất/04/2009 là khoảng tầm 331.194 người, đứng thứ 11 về con số trong thế gới những dân tộc bản địa Nước ta.[5] Người Ê Đê giờ đây khá đặc thù, đặc biệt là một thế gới có khuynh hướng kha khá thống nhất lòng tin dân tộc bản địa, cũng là một thế gới dân tộc-tôn giáo khá rõ ràng với trên 70% số lượng dân sinh ảnh hưởng tác động của đạo Tin Lành.[6]

Lịch sử vẻ vang, xuất xứ and tên thường gọi Anak Đêga (Êđê)[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết thần thoại của những người Êđê kể lại rằng: Một người thủ lĩnh (Krung) từ Ấn Độ tên là Radaya (Y-Đê) đến nơi chốn của công chúa mẹ Xứ Sở tên là Nagar (H-Gar). Radaya đã chinh phuc đc nơi chốn của Nagar kế tiếp kết duyên với công Chúa mẹ Nơi chốn Nagar đc phong làm Krung. Con cái hâu duệ của mình đc gọi là Anak Kudaya Nagar trong tương lai rút gọn âm lại thành Anak Đê Gar có nghĩa là con cái của thủ lĩnh Ấn Độ Kudaya( Y-Đê) với Công Chúa nơi chốn Nagar (H-Gar). Đây là truyền thuyết thần thoại khá thông dụng ở người dân địa phương khu vực đông nam á để lý giải xuất xứ cội nguồn.

220px Th%C3%A1p Yang Prong%2C Ea S%C3%BAp%2C %C4%90%E1%BA%AFk L%E1%BA%AFk

Yang Prong hay Yang Ya H’leo tại Ea Sup- Đăk Lăk trong bia ký Champa là Ya Hliêv, Ngôi tháp đc gây dựng bên dưới Triều Đại P Đê wađa Swor- P Đê -Jaya Simhavarman III tức Chế Mân (R’čăm Mâl hay Êčăm mâl,ngôi tháp đc gây dựng để dâng cúng Thần Vĩ Đại của những người Rang Đê cổ, trong thời kì kháng chiến chống Mông- Nguyên cuối thế kỉ XIII

220px Angkor Bayon 032 Battle Scenes %288581861528%29

Phù điêu miêu tả thủy binh người Rang Đêy trong đoàn quân Champa, quân lính thủy binh mặc âu phục khá đặc thù:Đầu quấn khăn đỏ, thả hai đuôi khăn về phía đằng trước trán, mặc áo hở ngực, đóng khố kơtel, tay trái cầm Khiêl, tay phải cầm gươm, giáo đang vượt hồ Tonlé Sap viễn chinh Campuchia ở thời điểm cuối năm 1177 tại đền Bayon -Siêm Riệp. Ngay này, Điệu múa Khiêl (múa võ) vẫn đc người Ê Đê bảo trì trong số nghi lễ:Cúng bến nước, lễ rước ghế Kpan (thuyền)…Để tưởng niệm ông bà tổ tiên ra trận,trong số bài cúng Bến nước Êđê luôn có câu:(Cầu xin làn nước… Chúng tôi hiến tế cho Ông Bà ông bà tổ tiên xưa mới đây,cho ông bà tổ tiên xưa cho những binh sỹ của chúng tôi…)

Vào đầu công nguyên, xuất hiện thêm hai quốc gia của những người Malayo – Polynesia to trên bán hòn đảo Ðông Dương: Phù Nam and Chiêm Thành. Chủ quyền lãnh thổ Phù Nam rộng từ Vịnh Vương Quốc của nụ cười đến Biển Hồ nhưng ảnh hưởng tác động tỏa lên Thượng Lào and Bắc Miến Ðiện. Chiêm Thành gồm nhiều quốc gia nhỏ dại hoạt động chủ quyền cùng nhau dọc những đồng bằng trung du chật chội miền Trung đến chân dãy Trường Sơn về phía Tây: Lâm Ấp hay Indrapura (Bình Trị Thiên), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Tỉnh Bình Định), Aryaru (Phú Yên), Kauthara (Khánh Hòa) and Panduranga (Phan Rang). Hoạt động và sinh hoạt chính của những người Malayo – Polynesia là trồng lúa nước and kinh doanh. Ðể tìm thêm nguồn hàng quí hiếm bàn thảo với những thuyền buôn, người Malayo – Polynesia giải phóng và mở rộng tầm kiểm soát và điều hành lên những khu rừng rậm cùng theo đó khuất phục luôn những nhóm người dân địa phương đã có rất nhiều mặt từ trước, điển hình nổi bật điển hình nổi bật nhóm Bih ven Krông Ana mà thời buổi này đc gọi là ÊĐê Bih với kiến thức và kỹ năng dệt, trang sức quý, làm gốm, trồng lúa nước. Nhóm Bih là nhóm Malayo – Polynesia an cư and chạy nạn sớm vào sâu nhất trong châu lục, họ đem theo kỹ thuật trồng lúa nước ven sông,dệt vải thô, trang sức quý hạt, and kỹ nghệ làm gốm thô. Theo chiều lịch sử hào hùng, danh tự Ê Đê có xuất xứ từ cách thức đọc âm của những người Champa, bia ký Champa cổ nhất tại tháp P Nagar vào tầm thế kỷ VIII đã ghi chép về tộc danh Rang Đê vùng sông Nha Trang, sông Jing, sông Hing. Các bia ký sớm nhất của Champa thế kỷ VIII – đã có rất nhiều nói đến nhóm Rangde ven sông Ea trang (Nha Trang). Trong Bia P Nagar đc dựng năm 965 tại tháp P Nagar (Nha Trang, Khánh Hòa): Content bia như sau:Vào thời gian năm 703 – 706 lịch saka (781 – 784 Công lịch), vua Satyavarman cho dựng một linga (thiêng vật) thờ thần Siva and lập cháu mình lên làm vua Vikrantavarman(vì theo cơ chế mẫu hệ nên cậu truyền ngôi cho cháu theo dòng mẹ)… and đức Vua có hàng phục đc người Randaya (Rang Đê).Rất có khả năng từ Rang Đê trong tương lai bị biến âm thành Raday, Raday hay Êđê.
Không chỉ có vậy, người Ê đê còn tự nhận là nhóm tộc Đêga, Êđê Êga Anak Đêga – người trên Cao Nguyên. Đêga là từ tiếng Ấn Độ srakrit Deccan, and bản thân nó lại thêm xuất xứ từ tiếng Phạn दक्षिण, Đêkṣarṇa, nghĩa là “cao nguyên hướng phía nam”.[7]

220px Srivijaya Empire.svg

Đế quốc hằng hải Srivijaya (Indonesia) tiến công Eatrang Nha Trang vào khoảng thời gian 774, and người dân Chiêm Thành lên Cao nguyên M’Drăk (cao nguyên Đông Đăk Lăk) tị nạn số đông là những bộ lạc người Raday

220px National Museum of Vietnamese History42

Bia ký Tháp P Nagar bên dưới đời Vua Satyavarman vị vua thay tên nứớc từ Lâm Ấp Hoàn Vương thành Campa’Degar – Campa’nagar (Chiêm Thành) sau thời điểm thống nhất những bộ lạc Nam Hòn đảo ở miền trung bộ Nước ta thời buổi này. Bia chữ phạn dựng Vào thời gian năm 703 – 706 lịch saka Ấn-Độ (781 – 784 Công lịch) có nói đến công lao của Đức Vua có công chinh phục những bộ lạc Rang Đê ven sông Nha Trang (Ea Trang), Sông Jing(Krông Jing), Sông Hinh (Krông Hing). Hiện nay đang lưu giữ tại kho lưu trữ bảo tàng lịch sử hào hùng Nước ta.

220px Serep%C3%B4k5

Người Ê Đê Bih đánh bắt cá cá trên sông Krông Ana (Srepok)

Ðến thời điểm cuối thế kỷ VII, quân Java của Indonesia từ Biển Ðông lại tràn lên đánh phá Ea ryu (Phú Yên) and Kauthara- Ea Trang (Khánh Hòa), một đa số dân chúng Chiêm Thành đã chạy lên rất cao nguyên M’Đrak tị nạn đưa theo các văn hóa truyền thống tập tục mẫu hệ, bản vẽ xây dựng, trồng trọt and ngữ điệu Chiêm Thành quy trình tiến độ sơ khai có vấn đề Ấn Độ hóa hơn mà phân thành những nhóm Raday. Người Rang Đê đc cho là ông bà tổ tiên của những người Eđê and Jarai,đã đc ghi chép tương đối nhiều trong số bia ký Champa. Vào khoảng thời gian 1283, quân Mông Cổ tràn xuống xâm chiếm Champa. Trước đoàn quân hùng mạnh mẽ của Mông Cổ, vua Champa ra quyết định rút quân lên vùng Tây nguyên để ẩn náu. Theo anh Marco Polo, một nhà du hành Âu Châu, vua Champa chịu bỏ trống tổng thể toàn bộ chủ quyền đồng bằng trung du cho quân Mông Cổ chiếm đóng. Suốt trong quãng 2 năm chờ đón không giao chiến, vì nợ lương thực, quân Mông Cổ tự rút lui thoát khỏi Champa. Rất có khả năng là trước việc xâm lược của đế quốc Mông Cổ, trong tương lai là cuộc Nam Tiến của những người Việt xuống đất Champa tạo được những làn sóng người Champa ven ngoại thành biển Trung, Nam Trung Bộ tiếp tục chuyển cư lên vùng bình nguyên Cheo Reo hỗn dung với thế gới Raday có trước, từ đó tạo được nhóm tộc người mới Anak Jarai lấy từ tên P Kurung Garai với hàm ý là những người dân Raday theo Vua Chế Mân chống xâm lược Mông Cổ. Trích tình tiết lịch sử hào hùng như sau: Tại Đại Việt, sau thời điểm không chuyển biến triều chính, năm 1252 Trần Thái Tông dẫn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Cuộc tấn công kéo dãn gần 1 năm, thành Vijaya thắt thủ, vương phi Bố Gia La cùng với rất nhiều cung phi, tù binh and quan chức triều đình Champa bị tóm gọn mang về Đại Việt. Jaya Paramesvaravarman II bị tử vong năm 1254, em là hoàng tử Sakan Vijaya lên thay, hiệu Jaya Indravarman VI. Jaya Indravarman VI bảo trì giao hảo với Đại Việt, triều cống đều đặn. Năm 1257, nhà Trần rút quân về nước, khi đó hiện nay đang bị quân Nguyên (Mông Cổ) rình rập đe dọa. Năm 1257, Jaya Indravarman VI bị ám sát, hoàng tử Pulyan Sri Yuvaraja, con người chị (công chúa Suryadevi) lên thay, hiệu Jaya Sinhavarman VI. Năm 1266, hoàng tử ChayNuk, con Jaya Paramesvaravarman II, lên kế vị, hiệu Indravarman V. Indravarman V thường xuyên giao hảo cực tốt với Đại Việt. Năm 1278, Indravarman V sai hai sứ giả (Bồ Tinh and Bồ Đột) sang Đại Việt xin bảo lãnh and thành lập và hoạt động một bằng hữu chống lại quân Mông Cổ. Hay tin này, năm 1281, vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) cử hữu thống chế Toa Đô (Sogatu) and tả thống chế Lưu Thâm cùng tham chính A Lý and Ô Mã Nhi mang 10 vạn thủy binh từ Quảng Châu Trung Quốc sang Chiêm Thành buộc Indravarman V phải đích thân về Trung Hoa triều cống. Không chống nổi quân Mông Cổ, Indravarman V chịu đặt Chiêm Thành sau sự bảo lãnh của nhà Nguyên (Trung Hoa) năm 1282. Toa Đô đc nhà Nguyên phong làm thống đốc toàn quyền cai quản xứ Chiêm Thành, tiểu vương Champa nào chịu theo quân Nguyên đều đc phong làm phó vương. Hoàng tử Harijit P Đêwađa Svor (hay P Đêpitathôr) hay có cách gọi khác là P Đê con Indravarman V, cùng mẹ là hoàng hậu Gaurendraksmi, không đồng ý sự đô hộ của Mông Cổ rút vào rừng núi về Ea Hleo theo đoàn quân hộ tống Rang Đê, tổ chức triển khai kháng chiến. Harijit mộ đc khoảng tầm 20.000 người Rang Đê sinh sống trên cao nguyên Ya Heou (Eâ Hleo), tiến công quân Nguyên trên khắp chủ quyền Bắc Chiêm Thành. Năm 1283, Toa Đô đứng vị trí số 1 một đoàn quân gồm 5.000 người, 100 tàu and 250 thuyền đi chạy dọc theo bãi biển Ea ryu (Tuy Hòa-Phú Yên thời buổi này) and vào cửa sông Krông Ea Drăng (Sông Đà Rằng,Sông Ba,Iapa, Ea P, Krong P) đổ xô lên rất cao nguyên Madrak, Ea H’Leo (Tây Nguyên) nhưng bị vượt qua. Quân Mông Cổ – 1 phần bị bệnh tật, không chịu đựng nổi khí hậu nực nội của miền nhiệt đới gió mùa, 1 phần vì đói kém, nợ tiếp liệu từ châu lục – phải rút về trấn giữ đồng bằng trung du.Năm 1288 Indravarman V mất, hoàng tử Harijit lên ngôi, hiệu Jaya Sinhavarman III (Chế Mân), đặt kinh đô tại Vijaya. Dù rằng không triều cống nhà Trần, bang giao giữa Đại Việt and Chiêm Thành rất là thắm thiết. Chỉ một không quá lâu sau Chiêm Thành hùng mạnh quay lại, những quốc gia lân bang, trong có Đại Việt cử người sang thông hiếu đều đặn. Nhiều đền đài đc xây đắp cả tại đồng bằng trung du lẫn trên cao nguyên. Chế Mân cho xây một tháp trên đồi Chư Hala, gọi là đồi Trầu, để dân chúng đến tế lễ, trong tương lai là tháp P Kurung Garai (Tháp Chàm Phan Rang). Chế Mân cho xây một đền thờ tại Yang Prong gần sông Êâ H’leo (Êa Sup- Tây Bắc Đăk Lăk bây giờ) để đảm nhiệm phẩm vật dâng cúng vua của những người Raday trên Tây Nguyên.

220px Thuyendocmoc

Một loại thuyền độc mộc của những người ÊĐê ở làng Buôn Đôn

Vào khoảng thời gian 1471 Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép về event người Chămpa đầu hàng quân Đại Việt của Vua Lê Thánh Tông như sau: Một lúc sau, đứng xa trông cảm nhận toán quân đi trước đã trèo lên đc chỗ tường thấp phía trên mặt thành, bèn bắn luôn ba tiếng pháo để đón ứng, lại hạ lệnh cho vệ quân thần võ phá cửa đông thành tiến vào. Thành Chà Bàn bị phá tan. Quân Đại Việt bắt đc hơn ba vạn tù binh and chém đc hơn bốn vạn thủ cấp. Ngô Nhạn dẫn tướng đầu hàng là bác ruột Trà Toàn tên là Bô Sản Ha Ma. Lê Thánh Tông sai tọa lạc các thứ người Chiêm cần sử dụng làm lễ vật mang đến xin hàng mà ở Đại Việt không tồn tại, sai viên quan đô úy Đỗ Hoàn chỉ tên từng thứ một. Có cái hộp bạc, có vẻ thanh kiếm, vua hỏi vật gì. Trả lại lời rằng đó là đồ của nước Chiêm từ xưa, người làm quốc vương phải có vật đó để truyền cho con cái. Quân Thuận Hóa bắt sống Trà Toàn dẫn đến trước vua Lê Thánh Tông, hoàng đế cho Trà Toàn đc sống. Hôm ấy là ngày mồng 1 tháng ba âm Lịch (1471).cuộc Nam Tiến của những người Việt xuống đất Champa tạo được những làn sóng người Champa ven ngoại thành biển Trung, Nam Trung Bộ tiếp tục chuyển cư lên vùng bình nguyên Cheo Reo hỗn dung với thế gới Rang đê có trước, từ đó dựng nên ra nhóm tộc người mới Anak Jarai.Nhóm Rang Đê vùng thung lũng sông Ba tự gọi mình là Ană Garai. Ană P Garai chính là cụm tên tuổi Ană P Kurung Garai (P Krung Grai là cách thức gọi tôn xưng thái tử Champa là Harijit (Rochom Mal) chỉ huy người Raday đánh đuổi Mông Cổ. Kurung hay Krung trong ngữ điệu Raday and Malay cổ có nghĩa là thủ lĩnh. Từ từ, P Krung Garai hay P KLong Garai phiên âm thành Jarai. Jarai tách khỏi khối bộ tộc Raday để tự nhận mình là Anăk Jarai với chân thành và ý nghĩa là các người con của Vua Chế Mân (P Krung Grai, P Klong Grai hay anak Jarai,DRai)

Tiểu quốc Jarai (tên thường gọi khác: Ala Čar Pơtao Đêga/ Dhung Vijaya/Nam Vijaya / Nam Bàn / Nam Phan / Nam Phiên/Chămpa Thượng) là một tiểu quốc cổ của những bộ tộc Nam Hòn đảo ở Tây Nguyên, Nước ta với bộ tộc chủ lực là người Ja Rai and người ÊĐê dựng nên từ khoảng tầm thời điểm cuối thế kỷ XV and chấm hết sự sống sót sau thời điểm phân rã ra thành những bộ tộc chủ quyền vào tầm thời điểm cuối thế kỷ XIX.Tiểu quốc đó được cai quản bởi những vị tiểu vương mà người Việt gọi là Thủy Xá – Hỏa Xá tức là Pơtao Apui – Pơtao Êa.Theo tương truyền những vị Vua là hiện thân của Thần Gươm Y Thih (nhân vật trong số truyền thuyết thần thoại của những người người Ê đê and Jarai. Một dữ liệu khác ghi là 20 “đời vua” tiểu quốc Jrai, là người kế tục giữ gươm thần do chàng Y Thih để lại. Có kiến khác nhận định rằng gươm thần của những P tao thực tế là những báu vật truyền ngôi của cung điện hoàng gia Chăm P sau thời điểm Lê Thánh Tông hủy diệt thành Vijaya (Đồ bàn, Tỉnh Bình Định). Xét về hình thái tộc người Rhade (Ê Đê) lui về hướng phía nam and cùng những nhóm Jarai thực tế la một dân tộc bản địa Rang Đê], hai nhóm tộc người này bị phân li do nguyên do lịch sử hào hùng mà trong tiếng Jarai gọi là thời kỳ tiah Phara. Nghĩa là cuộc phân ly bạn bè.

Hiện tại, những nhóm người dân Ê đê nhận tự thân là Anak Aê Diê, đọc chệch thành Anak Ê Đê – những người dân con do trời ra đời, vì nhận định rằng vị thần thượng thừa của mình là A.Ê – D.I.Ê nghĩa là Thượng đế theo truyền thuyết thần thoại của những người Ê Đê đc lưu truyền đến thời buổi này.

Số lượng dân sinh and địa phận cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc bản địa Ê Đê gồm có khoảng tầm gần 1/2 triệu (~490.000 người) đang sống và làm việc ở những nước trên thế gới như Campuchia, Nước ta, Vương Quốc của nụ cười, Đất nước Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Phần Lan, Thụy Điển… Trong những số ấy miền trung bộ cao nguyên của Nước ta là quê nhà địa phương nhiều năm của những người Ê Đê. Đây là nhóm dân tộc bản địa có xuất xứ từ nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai từ những hải hòn đảo Tỉnh Thái Bình Dương đã có rất nhiều mặt nhiều năm ở Đông Dương; truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa vẫn mang đậm nét mẫu hệ bộc lộ dấu vết hải hòn đảo của group tộc người nói tiếng Malay-Polynesia. Những nhóm bản địa gồm có những nhóm:

  • Êđê Kpă (tự nhận là chính dòng Đê). Cư trú quanh đô thị Buôn Ma Thuột, Krông Ana, Krông Pač, Čư̆ Mgar. Là ngữ điệu chuẩn có chữ viết của những người Ê-đê.

– Họ chính của Êđê Kpă: Niê, Buôn Yă (Byă), Êban, Niê Kdăm…

  • Êđê Adham xuất phát điểm từ chữ Ân-Độ là Adaham có nghĩa là vùng trũng đệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Bŭk, Čư̆ Mgar, Thị trấn Buôn Hồ, Krông H-Nang and 1 phần Êa Hleo của tỉnh Dak Lak

-Họ của Êđê Adham: Êya, Kpơr, Kbuôr..vvv

  • Êđê Mdhŭr xuất phát điểm từ chữ Ân-Đô là Madahura có nghĩa là vùng cằn cỗi, vùng đất thấp. Êđê Mdhur cư trú tại huyện Mdrak của hướng đông tỉnh Dak Lak, Sông Hinh của tỉnh Phú Yên.

-Họ của những người Êđê Mdhur: Hra, Lemo, Rơ Ô…

  • Êđê Bih là nhóm Rang Đê cổ nhất bảo lưu nhiều dấu vết cổ qua ngữ điệu, Êđê Bih có truyền thống cuội nguồn làm gốm, dệt chiếu, trồng lúa nước, tính chất những thiếu nữ có điệu múa có tên Rom Wŏng (Kdŏ Dar), Kông Tuôr. Họ Cư trú ven sông Krông Ana, sông Krông Knô của tỉnh Đak Nông. Một trong những vẫn đang gần hang Băng Adrênh, Bao quanh hồ Êa Kao, hồ Lăk, tại những huyện Krông Bông, Buôn Đôn, Cư Kuiñ.

Họ của những người Êđê Bih: BuônDăp (Bdap), Hdruĕ, Êñuôl, Hđơ̆k, Buôn Krông (Bkrông), Hlŏng, Kmăn, Hmŏk, Knul, Êčăm…

  • Êđê Krung xuất phát điểm từ chữ Kurung trong ngữ điệu Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng Nga mộ lính đi đánh giặc họ tự gọi những thủ lĩnh đó là Kurung hay Krung. Cư trú đa số tại huyện Êa Hleo, Krong Buk của tỉnh Dak Lak.

-Họ Êđê Krung:Mlô, Ktla, Aliô, Kđoh, Mdrang, Adrơng, Ksơr, Kpă…vvv
Không chỉ có vậy còn tồn tại những nhóm bản địa nhỏ dại khác: Blô, Dongmak, Hwing, Êban… Nhưng đa phần người Êđê không tồn tại sự khác biết to giữa những nhóm bản địa. Người Êđê là nhóm dân tộc bản địa có khuynh hướng thống nhất lòng tin tộc người, bộc lộ rõ ràng nhất là ranh giới lạ mắt giữa những nhóm bản địa sống sót trước đây thì thời buổi này đã tuyệt đối bị xóa sổ bằng sự việc thống nhất tôn giáo, ngữ điệu and chữ viết and người Êđê tự gọi họ là Anak Đê đọc né từ Anak Aê-Diê, nghĩa là các người con của Yàng (Thần Linh).
Theo Tổng khảo sát số lượng dân sinh and căn hộ chung cư cao cấp năm 2009, người Êđê ở Nước ta có số lượng dân sinh 331.194 người, cư trú tại 59 trên tổng cộng 63 tỉnh, đô thị. Người Êđê cư trú tập trung chuyên sâu tại tỉnh:

  • Đăk Lăk (298.534 người, chiếm 17,2% số lượng dân sinh toàn tỉnh and 90,1% tổng rất nhiều người Êđê tại Nước ta),
  • Phú Yên (20.905 người),
  • Đăk Nông (5.271 người),
  • Khánh Hòa (3.396 người).[5].Tại một trong những đất nước khác, như Campuchia, Đất nước Hoa Kỳ, Canada and những nước Bắc Âu cũng xuất hiện một chút ít người Êđê sinh sống, tuy nhiên chưa tồn tại số liệu chính thức.
  • Đất Nước Thái Lan khoảng tầm (1.000 người)

Nổi bật kinh tế tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ, cần sử dụng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn tồn tại ngô, khoai, bầu, thuốc lá, bí, hành, ớt, bông.
Nổi bật làm rẫy của những người Ê Đê là cơ chế luân khoảnh, tức là ở bên cạnh các khu đất nền đang canh tác còn tồn tại các khu đất nền để hoang để phục sinh sự đầy màu mỡ. Thời buổi này người Ê Đê gắn mình với chế tạo nông sản cây công nghiệp: coffe, cao su đặc, hồ tiêu, ca cao,…
Nghề trồng trọt tại đây có nuôi trâu, bò, voi. Người dân tại đây còn tự tạo ra sự đc đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức quý, đồ gốm.

Hôn nhân gia đình hạnh phúc gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

250px The young child people of Ede

Trẻ con người Ê Đê

Trong hạnh phúc gia đình người Ê Đê, gia chủ là thiếu nữ Từ đó của cải and đất đai sẽ tiến hành truyền từ mẹ sang con gái, theo cơ chế mẫu hệ có đặc biệt rất khá đồng bộ với cơ chế mẫu hệ của những người Minangkabau ở hòn đảo Sumatra của Indonesia, con cháu mang họ mẹ,trước đó thiếu niên chưa được hưởng thừa hưởng,hôm nay có sự bình đẳng ở trong nhà. Cô bé chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trong điều hành hạnh phúc gia đình,chăm lo con cháu, mồ mả ông bà tổ tiên,của cải thừa hưởng cho con cháu… Nam giới chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trong các công việc ngoại giao, giao lưu buôn bán đi với thế gới bên phía ngoài cùng theo đó những vụ việc tôn giáo and chính trị cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của những người nam giới. Do đó tầm quan trọng and vị thế của nam giới Ê đê bên phía ngoài thế gới là không nhỏ. Nam giới cư trú ở trong nhà vk. Nếu vk chết and bên nhà vk đã không còn gì ai thay thế sửa chữa theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, đc đưa về chôn cất bên người thân trong gia đình của hạnh phúc gia đình mẹ đẻ.Chỉ con gái đc thừa hưởng gia tài, đứa con gái út đc thừa hưởng nhà tự ông bà and phải nuôi dưỡng phụ huynh già. Đây là nét ảnh hưởng tác động từ lao lý của thế gới từ thời phong kiến Chămpa mà người Ê đê nương tựa trong quãng thế kỷ dài trong lịch sử hào hùng.

Văn hóa truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Người Êđê có kho báu văn học truyền miệng phong phú và đa dạng: thần thoại cổ xưa, cổ tích, ca dao, tục ngữ, tính chất là những Khan (trường ca, sử thi) nhiều người biết đến với Khan Dam San, Khan Dam Kteh Mlan, khan Dam Khing Jŭ,… Người Êđê yêu ca hát, múa Rom Wong (kdŏ dar) uyển chuyển, múa kông tuôr, thích tấu nhạc and đều rất có năng khiếu sở trường về nghành nghề này. Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm, Đĭng Buôt là nhiều chủng loại nhạc cụ thông dụng của những người Êđê và đã được nhiều người dân yêu mến.

Đặc tính tâm trí trong văn hóa truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê có lòng thật thà, kiên trì với việc vất vả, chịu đựng nhọc nhằn trong lao động, Siêng năng, nhiệt huyết trong những công việc, nhưng dễ làm mưa làm gió chống lại khi bị chèn ép and áp bức. Điều đó đã bằng chứng trong quãng ngàn năm lịch sử hào hùng đấu tranh đảm bảo thế gới của những người Êđê. Chính vì như vậy nếu như với người ÊĐê, dù chỉ một lần thôi thì cũng đủ để mất hết ý thức thậm chí còn dẫn đến hiềm khích kéo dãn tới cả dòng đời sau.

Vài nét về nhân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ê Đê chiếm 17 % số lượng dân sinh tại tỉnh Đăk Lăk. Dân tộc bản địa này phía bên trong nhóm những tộc quý khách ngữ điệu Malay-Polynesia, sống trên khắp khu vực đông nam á. Đa rất nhiều người Ê Đê thời buổi này là FAN Tin Lành – một tôn giáo gia nhập hòa trộn nhiều phần tử tín ngưỡng dân gian địa phương, and người Ê Đê không tồn tại tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Người Ê Đê thường sẽ có vẻ bên ngoài điển hình nổi bật của những người khu vực đông nam á, trông y hệt như người hải hòn đảo Indonesia, Philippin and Malaysia. Mặc dù vậy, người Ê Đê không thuần chủng, vẻ bên ngoài có tương đối nhiều nét khác biệt, đó là do tác dụng của khá nhiều thế kỉ trộn lẫn với những người Ấn Độ thời xưa, người M’nông thuộc ngữ điệu Môn-Khmer, người Pháp thời thuộc địa, and người Việt.

Căn nhà[sửa | sửa mã nguồn]

220px Cothon02

Nhà dài của những người Ê Đê

220px Bennuoc

Một bến nước của những người Ê Đê ở Cư Mgar

12px Commons logo.svg Phương tiện đi lại ảnh hưởng tới Nhà người Ê Đê tại Wikimedia Commons

Tộc người Ê Đê vốn thuộc đội người dân ngữ điệu Malay-Polynesia, có xuất xứ nhiều năm từ vùng biển. Dù rằng đã chuyển cư vào miền trung bộ Nước ta hàng trăm năm kia, and di cư lên Tây Nguyên khoảng tầm sớm nhất vào thời điểm cuối thế kỷ VIII đến thế kỷ XV nhưng trong sâu thẳm văn hóa truyền thống của những người Ê Đê, bến nước and chiến thuyền là các hình ảnh chưa hề phai nhạt. Nhà sàn Ê Đê có hình chiến thuyền dài, cánh cửa chính mở phía trái nhà, hành lang cửa số xuất hiện phía hông. Nằm trong nhà có trần gỗ hình vòm như nhau mui thuyền. Có khá nhiều buôn Ê Đê phong phú với hàng ngàn tòa nhà dài trông như 1 chiến hàm thuyền Nam Hòn đảo đang rẽ sóng giữa thế gới biển hòn đảo, đây là nét đặc thù có hầu như ở những tộc người nói tiếng Mã Lai. Nhà người Ê Đê thuộc mô hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy thuộc vào hạnh phúc gia đình nhiều người dân hay ít người. Nhà Ê Đê có các đặc thù riêng rất khác nhà của những người dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà đất của hạnh phúc gia đình to theo cơ chế mẫu hệ. Bộ khung cấu tạo đơn giản và dễ dàng. Cái được nhìn nhận là đặc thù của nhà Ê Đê là: vẻ ngoài của cầu thang, cột sàn and cách thức sắp xếp phía trên mặt bằng hoạt động. Đặc thù là ở cả 2 phần. Nửa đằng cánh cửa chính gọi là Gah là địa chỉ đón tiếp khách, hoạt động chung của thành viên trong gia đình dài, nhà bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiêng ché,… nửa còn sót lại gọi là Ôk là nhà bếp đặt chỗ nấu ăn chung and là chỗ ở của những đôi vk chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được nhìn nhận là “trên” phân thành nhiều gian nhỏ dại. Phần về ở bên phải là hàng lang để di chuyển và đi lại, về phía cuối là vị trí nhà bếp. Mỗi đầu nhà chứa một sân sàn. Sân sàn ở phía cánh cửa chính đc gọi là sân khách. Muốn vào trong nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang.

Âu phục[sửa | sửa mã nguồn]

Có không hề thiếu những phần tử, chủng loại âu phục and quý phái thẩm mỹ và nghệ thuật khá tiêu biểu vượt trội cho những dân tộc bản địa địa điểm Tây Nguyên. Y phục truyền thống của những người Êđê là black color, có điểm các hoa văn sặc sỡ. Cô nàng trùm khăn lên đầu, mặc áo, quấn váy (iêng). Người Nam giới Êđê (Radaya) thời trước nhận ra trông rất rõ ràng về vị thế, ngoài âu phục truyền thống bao gồm Ao Kiêr Nut (áo liền nút), khố kteh and đầu quấn khăn (Păn Ka-Ưm) đc binh lính and nông dân những tầng lớp thấp mặc, thì những thủ lĩnh (Krung) hay quý tộc Êđê (Radaya) thường mặc Čhum Kpin. Người Êđê ưa cần sử dụng những đồ trang sức quý bằng bạc, đồng, hạt cườm. Trước đây, tục cà răng lao lý mỗi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng trẻ tuổi thời buổi này không cà răng nữa.

Âu phục nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nam để tóc ngắn quấn khăn black color nhiều vòng trên đầu and đeo sbay trong đợt lễ. Y phục truyền thống cuội nguồn gồm áo and khố.

Tập tin:Bracelets, E De, Dar Lac, 1967, silver – Vietnamese Women’s Museum – Hanoi, Vietnam – DSC04052.JPG

Bộ vòng Kông-tuôr bằng bạc của thiếu nữ Êđê thế kỷ XVIII,gồm 6 đến 12 chiếc, chia thành 2 bộ: Bộ thứ 1 có 3 chiếc để đeo tay phải and cổ bàn chân phải and bộ đầu tuần để đeo tay trái, cổ bàn chân trái. Đây là một loại trang sức quý có xuất xứ từ văn hóa truyền thống trang sức quý Ân-Độ, hiện tại đang lưu giữ tại Kho lưu trữ bảo tàng thiếu nữ Nước ta- Thành Phố Hà Nội

Áo hiện có hai loại căn bản:

  • Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu vượt trội cho những người Êđê qua âu phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả and khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân and ống tay áo ở ngực, phía 2 bên bả vai, cửa tay, những đường viền cổ, địa chỉ xẻ tà gấu áo đc bày diễn trang trí and viền vải đỏ, trắng. Đặc thù là khu giữa ngực áo hiện có mảng sọc ngang trong bố cục tổng quan hình chữ nhật tạo dáng xinh, khỏe, lực lãm.
  • Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá gối, có khoét cổ, ống tay nhiều khi không bày diễn trang trí như loại áo dài trùm mông nhắc đến ở trên,…

Khố có hai loại căn bản:

  • Khố (Kpin): đa số đượng cần sử dụng cho binh lính and nông dân những tầng lớp thấp mặc. Khố này có tương đối nhiều loại và đã được nhận ra ở sự ngắn dài có bày diễn trang trí hoa văn thế nào. Xinh nhất là nhiều chủng loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn nhiều chủng loại bong and băl là loại khố thường.
  • Khố quần (čhum kpin): đc cần sử dụng cho tướng lĩnh and những nhà quý tộc Quý giá. Khố quần bao gồm ba màu chủ yếu, black color, đỏ and xanh.

-Đen: đặc trung cho đất

-Đỏ: đặc trung cho các nhà giàu quý tộc làm quan.

-Xanh: đặc trung cho núi and rừng

  • Áo thường ngày ít có hoa văn, ở bên cạnh nhiều chủng loại áo trên còn tồn tại loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo hiện có giá cả nhất là loại áo Ktêh của không ít người quyền quý và cao sang có dải hoa văn “đại bàng dang cánh”, ở dọc phía 2 bên nách, gấu áo phía đằng sau sườn lưng có đính hạt cườm. Phái nam cũng mang hoa tai and vòng cổ.

Âu phục nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Cô bé Êđê để tóc dài buộc ra sau gáy hoặc trùm khăn lên đầu. Họ mang áo váy trong âu phục thường nhật. Xưa họ để tóc theo phong cách búi tó and đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức quý bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng nó vào nhau họ có khả năng nhận biết người quen, thân.

  • Áo: Áo thiếu nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi diện cho ra bên ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm những bộ phận đc bày diễn trang trí là: cổ áo lan sang phía 2 bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là những đường viền phối hợp với những dải hoa văn nhỏ dại bằng sợi red color, trắng, vàng. Cái khác của âu phục áo nữ Êđê khác Gia rai về quý phái bày diễn trang trí là không tồn tại đường ở chính giữa thân áo. Đếch là tên thường gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Không chỉ có vậy thiếu nữ còn tồn tại áo lót cộc tay (áo yếm).
  • Váy: Đi cùng theo với áo của thiếu nữ Êđê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được thiết kế bày diễn trang trí những sọc tọa lạc ngang ở mép trên, mép bên dưới and giữa thân bằng chỉ những màu gần giống như áo. Đồ án bày diễn trang trí tập trung chuyên sâu hơn ở mép trên and bên dưới thân váy. Rất có khả năng đó cũng là quý phái hơi khác với váy của dân tộc bản địa Gia Rai. Váy có tương đối nhiều loại nhận ra ở những dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại chính hãng là m’iêng đếch, rồi đến m’iêng Drai, m’iêng piơk. Loại nhiều khi mặc đi làm việc rẫy là bong. Hiện tại nữ giới trẻ thường mặc váy kín.
  • Khăn: Có 2 loại khăn.

1. Khăn trùm đầu: đc chọn nhiều chủng loại vải mềm and cuốn lên đầu, tùy thuộc vào màu vải sở trường thích nghi của cá thể.
2. Khăn lah (Sbay): đc đeo trên những dịp lễ bên vai, được thiết kế băng tâm vải rộng khoảng tầm 20mm, dài tùy thuộc vào sở phù hợp với mình.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

220px Christian flag.svg

Cây thập tự màu huyết hình tượng chính trong đạo Tin Lành truyền thống cuội nguồn của những người Ê Đê

Hầu như người Ê Đê theo đạo Tin Lành được những nhà truyền giáo phương Tây[ai! là ai?] truyền vào trong những năm đầu của thế kỷ XX.[khi nào?] Dak Lak địa chỉ tập trung chuyên sâu đông người Ê Đê nhất cũng là địa chỉ có FAN Tin Lành nhiều nhất Nước ta, đây được nhìn nhận 1 trong các các trọng tâm đạo Tin Lành to nhất địa điểm Đông Dương. Họ thường đọc kinh cầu nguyện tại những nhà riêng của mục sư, hiện giờ những nhà thời thánh Tin lành vẫn chưa nhiều. Công giáo Rôma đc truyền bá trải qua những nhà truyền giáo trong tương lai là người Pháp. Tỉ lệ người Ê đê theo Công giáo cực thấp, do vấn đề tấm lý and nguyên do lịch sử hào hùng, Sau Hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm cho hủy bỏ quy định Hoàng triều Cương thổ, tức chấm hết độc quyền của Quốc trưởng Bảo Đại trên vùng Cao nguyên and gom vùng đất này vào chủ quyền chung của Non sông Nước ta. Về mặt kinh tế tài chính có khoản giải phóng và mở rộng đất đai canh tác and lập những khu dinh điền, an cư hàng vạn người Công giáo từ miền Bắc di cư vào Nam. Một trong những đc đẩy lên vùng Tây Nguyên chiếm một trong những đất người Thượng làm những khu dinh điến, sự xuất hiện thêm đông bất ngờ đột ngột người Kinh Công giáo, cùng theo với sự tẩy chay chủng tộc, mất đất đai, văn hóa truyền thống bị xâm phạm, đã để lại vết đau trong tâm địa lý của những người Êđê, trừ những người dân Êđê Công giáo thời Pháp thuộc, thì đa phần người Ê đê còn sót lại số đông chọn Tin Lành như là một tôn giáo để có khả năng đối chọi lại từ sự đồng điệu từ phía công giáo mà chính quyền trực thuộc Ngô Đình Diệm ủng hộ khi đó. Những người dân Ê đê theo Công giáo thì thông thường tới những nhà nhờ tại bản địa vào trong ngày chủ nhật. Một trong những không nhiều nếu không muốn nói là rất ít theo Phật giáo tại những vùng thành phố. Số còn sót lại vẫn theo nét tín ngưỡng truyền thống, thờ cúng những thần hộ thân cho bản thân.
Lịch pháp theo tôn giáo truyền thống cuội nguồn của những người Ê-đê có sự lạ mắt nếu với lịch pháp công lịch,thứ lịch đếm ngày chậm hơn một ngày nếu với công lịch. Người Eđê cần sử dụng lịch pháp Moise có xuất xứ từ Do Thái giáo. Đó là ngày bắt buộc người Eđê phải nghỉ dưỡng thờ phượng vào trong ngày thứ Bảy (Hruê Kjuh) hay có cách gọi khác là Hrue Sabbath (shab-bawth’) tức ngày Chủ Nhật (Sunday) trong Công Lịch Nước ta.

Đối chiếu Lịch pháp Ê-đê với những lịch pháp Công Lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch thứ tiếng Ê-đê Lịch thứ Hebrew (Do Thái giáo) Lịch thứ tiếng Việt Lịch thứ tiếng Anh
Hruê 1 (SA) Yom Rishon (1) – יום ראשו Đầu tuần (HAI) Monday (2-DAY)
Hruê 2(DUA) Yom Sheni (2) – יום שני Thứ 3(BA) Tuesday (3-DAY)
Hruê 3 (T’LÂO) Yom Shlishi (3)– יום שלישי Thứ 4 (TƯ) Wednesday (4-DAY)
Hruê 4 (P) Yom Reviʻi (4) – יום רביעי Thứ 5 (NĂM) Thursday (5-DAY)
Hruê 5 (ÊMA) Yom Chamishi (5) – יום חמישי Thứ 6 (SÁU) Friday (6-DAY)
Hruê 6 (NĂM) Yom Shishi (6) – יום ששי Thứ 7 (BẢY) Saturday (7-DAY)
Hruê 7 (KJUH) (SABAT) Yom Shabbat (7) – יום שבת CHỦ NHẬT Sunday (1-FIRST DAY)

Người Ê Đê coi số 7 là số lượng rất linh, and số lượng tận trong hàng đơn vị chức năng tiếng Ê-Đê cùng sau số lượng 7 đều là các số ghép. Người Ê-đê theo Tin Lành thờ phượng đúng vào trong ngày Thứ Bảy mà người ta gọi là (Hrue Sabbath): Ngày Nghỉ dưỡng – Trùng vào trong ngày Chủ Nhật (Sunday) trong Công Lịch. Các bây giờ số đông FAN thường kiêng không thao tác nương rẫy hay lao động chân tay khác.
Đạo Tin Lành truyền thống cuội nguồn của những người Ê-đê hòa trộn nhiều tín ngưỡng địa phương có trước với khá nhiều điều khoản đại kỵ khá ngặt ngặt nghèo: Cấm hôn nhân gia đình ngoại giáo, không ăn thịt động vật hoang dã chết hay quái vật cắn, không ăn thực phẩm ảnh hưởng cúng tế ngoại giáo, cấm thờ ảnh tượng, không ăn huyết động vật hoang dã and các thức ăn chế biến từ huyết động vật hoang dã, cấm cần sử dụng đồ uống có men như rượu, bia and thuốc lá, đưa tang ma vào tầm khoảng 9h buổi sáng theo ý niệm phải mặt trời (ánh bình minh) chiếu xuống huyệt góc 60 độ về hướng Tây(?)…

Tên họ người ÊĐê[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tên người ÊĐê

220px Tetragrammaton

Ký họa tên tuổi Thượng đế Y-HWH (AÊ-DIÊ) bằng chữ Do Thái Hebrew. Vào thời điểm đầu thế kỷ XX, Y-Jut đã thi công cải cách thức lối đặt đệm tên họ cho những người Ê Đê bằng cách thức cần sử dụng vần âm đầu là chữ ” Y-” là tên tuổi Thượng đế Y-HWH (Thiên Chúa Giê-Hô-Va hay Gia-Vê) để đệm tên lót cho tổng thể toàn bộ người nam thay thế sửa chữa hẳn lối đặt tên nương tựa từ phong kiến Champa and Java(Indonesia) mang nhiều Color nhận ra thứ bậc, tuổi tác, vị thế xộc xệch nan giải (Dam, Hbia, Ama, Aê, Yă, Aduôn, pô…) hầu như thời buổi này người nam Ê Đê đều đệm vần âm “Y-” từ chữ “YHWH” theo kết cấu “(Y-)+(tên thường gọi) +(họ) như là một điều bắt buộc cho mọi phái mạnh người Đê mang chân thành và ý nghĩa:các người con trai của Yang (anak Aê-Diê).[ Yehowa]

Chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

220px EdeVietNT

Kinh Thánh Tân Ước Tuy vậy Ngữ Êđê – Việt bằng mẫu tự Latin gồm Chương đầu sách Phúc âm theo Thánh đồ Y-Mathiơ tóm tắt giả phả của Đấng Christ từ tổ phụ Y-Abraham.Đây là ấn bản tham khảo thêm cho cuốn Kinh Thánh tiếng Ê Đê ấn bản 1928 (thất truyền 1954), ấn bản 1968 and ấn bản 1972 của viên ngữ điệu học tại Viện Ngôn từ học Ngày hè Mỹ and hiệp hội cộng đồng Thánh Kinh United Bible Societies.

Trước lúc người Pháp đặt bàn chân lên Tây Nguyên (Đêga), người Êđê đã có rất nhiều chữ viết riêng theo lối văn tự Pali- Sancrit của Ấn Độ mà người Êđê gọi là ” Boh hră”, có khả năng là 1 trong các các loại dạng kiểu chữ viết cong của những người Champa, loại chữ Sancrit đó được viết trong giấy tờ da ” mơar klĭt”, hay trên lá cọ khô “Hla guôl”, loại chữ này tuyệt đối thất truyền sau năm 1954 bởi chế độ Việt hóa and cấm dậy ngữ điệu địa phương bên dưới thời người cai trị đất nước Ngô Đình Diệm của cơ quan chỉ đạo của chính phủ Nước ta Cộng Hòa, các văn bản bằng chữ Êđê cổ sau cuối bị chính quyền trực thuộc Ngô Đình Diêm thiêu huỷ tuyệt đối. Những năm cai quản của những người Pháp, chính quyền trực thuộc thuộc địa đã cổ vũ cần sử dụng chữ viết theo mẫu tự Latin do 2 thầy giáo Y-Ut and Y-Jut trí tuệ sáng tạo ra vào tầm trong những năm thời điểm đầu thế kỷ XX. Mục tiêu đa số là nhằm mục tiêu giao hàng giáo dục. Trong lúc người theo Công giáo and Tin Lành cần sử dụng nó để ghi chép Kinh Thánh and Gia Phả.
Nếu như với những dân tộc bản địa ít người khác tại Nước ta, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng vần âm La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên 1920. Những nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp cùng những nhân viên ngữ điệu học tại Viện Ngôn từ học Ngày hè đặt chữ viết cho những người ÊĐê để dịch Kinh Thánh cho dân tộc bản địa này[8]. Năm 1971, những nhân viên này phối hợp cùng Bộ Giáo dục đào tạo Nước ta Cộng Hòa ban hành sách dạy tiếng Ê Đê[9]. Năm 1979, sách dạy ngữ vựng ÊĐê đc xuất bản tại Đất nước Hoa Kỳ[10]. Kinh Thánh Tân Ước tuy nhiên ngữ ÊĐê-Việt ban hành năm 2001[11]. Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo của cơ quan chỉ đạo của chính phủ Nước ta, với việc bổ trợ của United Bible Societies, đã ban hành 20 ngàn cuốn Kinh Thánh Tân Ước tuy nhiên ngữ ÊĐê-Việt tại Nước ta[12]. Đây là bộ sách có con số ban hành nhiều nhất trong tiếng ÊĐê từ trước đến lúc này.

Nhà hàng siêu thị người Ê Đê[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhà hàng siêu thị người Ê Đê

Những tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử hào hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Êđê and người Ja Rai vốn cùng xuất xứ từ 1 tộc người Orang Đê cổ đc ghi chép tương đối nhiều trong số bia ký Champa, Khmer,…Orang Đê có khả năng là nhóm mà người Ê đê and Gia Rai gọi là Mdhur, trong văn hóa truyền thống Mdhur có đựng được nhiều vấn đề văn hoá trung gian giữa người Êđê and Ja Rai. Trong văn hóa truyền thống Mdhur trước đây còn sống sót tục hỏa táng người chết and bỏ tro trong chum, ché kế tiếp mới mang chôn cất ở trong nhà mồ, đây có khả năng là ảnh hưởng tác động của đạo Hin-đu từ người Chăm. Xét về phương diện người Mdhur là cội nguồn khởi hành của những người Ê đê and Gia Rai văn minh.
Trong lịch sử hào hùng Orang Đê đã có lúc từng sống sót những tiểu quốc sơ khai, với việc cai quản của những Mtao, P Tao có quyền lực trên một địa điểm to lớn ở vùng người Gia Rai and Ê đê. Sự dựng nên những tiểu quốc nhỏ dại là đặc biệt thường trông thấy ở những tộc người Đông Nam á:

  • Mtao Pui- Mtao Êa (Thủy Vương – Hỏa Vương, tiếng Khmer là Sadet Tok – Sadet Phlong, là tên thường gọi của hai vị tiểu vương cai quản tiểu quốc Orang Đê của cục tộc người Jarai Chor, Jarai Hdrung, Êđê Krung, Mdhur and một bộ phận Êđê Adham trên cao nguyên Pleiku, thung lũng Cheoreo, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Krông P, M’Drak, Krông Hing từ thế kỷ XV đến thời điểm cuối thế kỷ XIX. Sang thời điểm cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, nhóm Êđê Adham vùng Krông Bŭk, Buôn Hồ, Čư̆ Mgar vững mạnh nhờ giao lưu buôn bán tốt với những người Lào, Khmer, Xiêm trải qua vùng Bản Đon thời buổi này, Yă Wam là một nữ tù trưởng đã có lúc từng phụ thuộc người Xiêm and Lào để mang người Adham ra khỏi ảnh hưởng tác động của những Mtao-Ptao vùng Jarai.
220px Mo vua voi

Mộ tháp Khun-Ju Nốp tại Buôn Trí, là địa điểm đc Mtao (thủ lĩnh)Yă-Wam vua tiểu quốc Adham cắt tặng kèm đất cho những người tình mình là Y-Thu Knul, nhằm mục tiêu chấm hết các cuộc Nam tiến, Đông tiến của những người Lào- Thái

  • Tiểu quốc Adham (TK 18 -TK 19)

Adham hay Dham, hoặc Atham, là một đội bản địa của những người Ê đê.
Người Adham cư trú ở hướng phía tây bắc Dak Lak, đa số ở vùng Buôn Hồ, Čư̆ Mgar, Krông Bŭk and Êa Hleo. Đây là nhóm bản địa đông số lượng dân sinh nhất của những người ÊĐê. Khoảng chừng thời điểm giữa thế kỷ XVIII vào thời điểm đầu thế kỷ XIX, người Êđê Adham đã có lúc từng di cư ồ ạt xuống hướng phía tây nam của Đăk Lăk and tạm dừng cộng cư với những người Êđê Kpă vùng Buôn Ama Thuột thời buổi này để hạn chế các cuộc tiến công từ những Mtao Êa- Mtao Pui của tiểu quốc Jarai.
Nhờ con phố buôn bán đi với người Lào, Xiêm, Khmer tại những cửa sông Bản Đon thời buổi này, thế kỷ XVIII – XIX được nhìn nhận thời kỳ cải tiến và phát triển mạnh mẽ của Êđê Adham với việc cai trị của nữ thủ lĩnh Yă Wăm đc người Êđê gọi Mtao Mniê (Vua Bà), Yă Wăm cai quản một địa điểm to lớn từ Krông H-Nang, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Čư̆ Mgar, Buôn Đôn. Thế nên, bà đc người Lào, người Xiêm kính nể and đối chiếu ngang với quyền lực Mtao Pui, Mtao Êa.
Cho tới thời điểm đầu thế kỷ XX, người Adham là nhóm hùng mạnh and an khang nhất nếu với những nhóm Êđê khác ví như người Kpă. Địa phận của những người Adham gồm ‘”…Nam phần Dak lak cho đến lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ đánh bại sông Krông Bŭk and lan tới tận thượng nguồn sông H Nang”.
Việc bà Yă Wăm cắt đất Buôn Đôn cho Y-Thu Knul để an cư cho một trong những dân người gốc Lào, Vương Quốc của nụ cười lập ra Buôn Đôn, chấm hết cuộc nam tiến của những người Lào theo dọc những nhánh sống Mekong, cùng theo với mẩu chuyện tình ái giữa Nữ thủ lĩnh nổi tiếng and thủ lĩnh săn voi có tài năng này, là nguyên do để tiểu quốc gia Êđê Adham suy tàn sau thời điểm người Pháp đã từng đến Buôn Đon. Giờ đây quyền lực Êđê Kpă vùng Buôn Ama Thuôt lúc đầu vững mạnh nhờ phụ thuộc quyền lực người Pháp thay thế sửa chữa hẳn tầm quan trọng của những người Êđê Adham.

Câu nói của nhân vật nhiều người biết đến[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả chúng ta phải có chữ của những người ÊĐê, tất cả chúng ta cũng cần được học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không đủ can đảm coi thường tất cả chúng ta“.- Thầy giáo Y Jut Hwing (1885-1934), người đã trí tuệ sáng tạo ra chữ ÊĐê.

Đất là sườn lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ buôn làng mà đi để bọn giặc chúng giẫm lên sườn lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta“. – Tù trưởng Ama Jhao (1840-1905)

Cuộc sống tôi vừa mới được ca hát, vừa trồng coffe, vừa mới được sống giữa núi rừng, sống với vạn vật thiên nhiên. Người ta vẫn hỏi tôi, tại sao không dời nhà về đô thị, tại sao không đi diễn nhiều, tại sao không làm kinh tế tài chính, lời giải đáp của mình rất đơn giản, tôi yêu cuộc sống thường ngày ở cao nguyên, tôi yêu vạn vật thiên nhiên quê mình, tôi thích cách thức sống như thế, and dù chưa biết đó có phải là chọn lựa đúng hay là không, nhưng tôi không khi nào hối hận về sự chọn lựa của chính mình. “— Y Moan Ênuôl

Ta không lo nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không lo chết, nhưng sau ta, ai xứng danh là sứ giả văn hóa truyền thống…“- Y Moan Ênuôl

Các nhân vật nhiều người biết đến trong lịch sử hào hùng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Y-Đê (Radaya) người Thủ Lĩnh chinh phục Nàng Công Chúa H-Gar (Nagar). Đây cùng là xuất xứ dựng nên 1 dân tộc bản địa có tên tổ phụ của những người Đê-Gar and thành lập và hoạt động quốc gia mới mang tên Radaya (Đêgar). Từ ” Anak Đê-Gar” có nghĩa là những người dân con của Y Đê and H Gar theo tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ là Anak KuRadaya.
  • Người Êđê là 1 trong các các tộc người dân có lịch sử hào hùng nhiều năm trong địa điểm miền Trung and Tây Nguyên, Trải qua những thư tịch cổ của Trung Quốc, Đại Việt, những bia ký của Champa, Đế Chế Khmer, đến cả các ghi chép của những nhà truyền giáo mà không ít nhắc tới những nhân vật trong lịch sử hào hùng của những người Êđê xưa. Trong những sản phẩm thực tế sử thi dân gian của những người Êđê thường nhắc tới những nhân vật anh hùng. Sử Thi Êđê là một pho dữ liệu quý giá ẩn chứa thông báo lịch sử hào hùng về tộc người này.Trong phần lịch sử hào hùng, Pièrre Bernard Lafont đã thi công chia lịch sử hào hùng Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được xem từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì địa phương (1471-1832) and thời kỳ sau ngày sụp đổ (1832-thế kỉ XX, trải qua ba quy trình tiến độ này thì thời kỳ Ấn Độ hoá Chăm P (được xem từ khi lập quốc đến năm 1471)đã ảnh hưởng mạnh đến 1 phần văn hoá and tín ngưỡng của những người Êđê cổ, quy trình tiến độ sau sụp đổ vương triều Vijaya 1471),vấn đề văn hoá Ấn từ những triều đại Champa đã khồng đủ khả năng ảnh hưởng tác động trước việc cải tiến và phát triển quay lại của vấn đề văn hoá địa phương ở người Êđê, trong quy trình tiến độ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII này nhiều sản phẩm thực tế trường ca, sử thi cổ bắt cải tiến và phát triển nảy nở lại: Dam San, Dam Yi, Đẹp Nhã, Dam Kteh Mlan.. and chấm hết lúc các nhà truyền giáo Phương Tây and người Việt thâm nhập vùng cao nguyên.
  • Hơbia Mmih-Êa hay có cách gọi khác là nàng Mi Ê (媚醯) Hbia Mih Êa là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ XI.Bà là vk của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Êa vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi dệt chăn gấm.HơBia Mih Ea trong ngữ điệu Rang Đê cổ có nghĩa là nàng con sông. Vào triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Cồ Việt, vua Jaya Sinhavarman II của Champa không tuân theo lệ cống, thất lễ Phiên thần, vua tự đem quân Nam chinh phạt Chiêm Thành. Vào khoảng thời gian 1044, vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt tiến đánh Chiêm Thành, trong lúc đó triều chính Chiêm Thành có sự bội phản, tướng Chiêm Thành là Quách Gia Dĩ đã chém chết chúa vua Jaya Sinhavarman II rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt thu được thành Sinhapura, bắt hàng ngàn cung nữ, ca kỹ and nhạc công mang về, trong các số đó có H’Bia Mih Êa:Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ, giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt đc 30 con voi and giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya Sinhavarman II [13]. Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm, vua Đại Cồ Việt nghe Mỵ Ê có vẻ đẹp, bên sai quan Trung Sứ vời đến chầu thuyền ngự. Mih Êa không dấu đc phẩn uất, lắc đầu rằng: Bà xã phương nam tàn bạo quê mùa, y phục xấu xí, ngữ điệu thô lỗ, rất khác những phi tần đất Việt. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong sao một chết là thoả lòng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nổi làm dơ mình vua vậy. Đoạn, nàng lén lấy tấm chăn thổ cẩm vừa tự dệt quấn lấy kín thân mình rồi nhảy xuống sông Châu Giang mà chết. Hoàng đế dữ dội tự hối, muốn giúp nhưng không sao kịp nữa.
  • H’bia Suryah Bunga Dewee hay Suryah Đê-wi(Thế kỷ XII) Là chị gái ruột của Vancaraya là dòng dõi cung điện hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi trong tương lai thành vk của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga and biến thành thứ hậu. Khi người Khmer xâm chiếm and đô hộ bắc Chiêm Thành, Suriyah Bunga Dewi kiến nghị chồng là vua Jaya Harivarman I mang quân sang cứu em trai mình là Vancaray đánh đuổi người Khmer and giải phóng kinh đô Vijaya của xứ Bắc Chiêm Thành. Sau cuộc kéo quân ra bắc, Jaya Harivarman I đã đánh đuổi đc người Khmer and ngay lập tức kiểm soát và điều hành hết tổng thể toàn bộ chủ quyền bắc Chiêm Thành với dự tính nhằm mục tiêu thống nhất toàn cõi dân Chiêm Thành .Sự việc dẫn đến người sự chống đối kinh khủng của những người Rang Đê sau sự chỉ huy của Vancaraya.
  • Dam Khing Jŭ Vancaraya (1125- 1169) Vancaraya là tên thường gọi bằng tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ Vancaraya (वैनसीएराया), tiếng ÊĐê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là Thủ Lĩnh Da Nâu. Theo sử liệu Trung Hoa thì Vancaraya đc nói đến với tên thường gọi (鷹 明 葉 Bính âm: YingMingYe, âm Hán Việt: Ưng Minh Diệp), là một thủ lĩnh người Rang Đê, cũng là một hoàng tử thuộc cung điện hoàng gia Vijaya khu vực miền bắc Champa, quy trình tiến độ lịch sử hào hùng này, người Êđê and Jarai chưa phân li thành hai tộc người riêng như thời buổi này. Event lịch sử hào hùng theo bia ký Champa đánh dấu rằng: Đó là vào thời điểm giữa thế kỷ thứ XII, quốc gia Champa bị phân loại làm hai miền. Miền nam bộ, tức là tiểu quốc gia Panduranga (thuộc vùng Ninh Thuận thời buổi này), đặt bên dưới quyền chỉ huy của vua Jaya Harivarman I. trái lại, tiểu quốc gia Vijaya (Thời buổi này thuộc địa phận huyện Tuy Phước tỉnh Tỉnh Bình Định) ở khu vực miền bắc đặt bên dưới quyền đô hộ Đế chế Khmer. Vì không còn đồng ý sự ách thống trị của những người dị chủng Campuchia, vua Jaya Harivarma I ở miền nam bộ tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào khoảng thời gian 1149, giết đc hoàng tử Harideva, chỉ huy đoàn quân viễn chinh Campuchia. Sau ngày thắng trận, thay thế vì Jaya Harivarman I phải rút quân trở về Panduranga, ông ta lại tận dụng tình thế, tự xưng vương ở Vijaya, dù rằng ông ta biết rằng quyền nối ngôi ở Vijaya phải thuộc về hoàng tử Vancaraya, chính là em ruột của vk ông (Vua Jaya Harivarnann I chứa một người vk gốc Rang Đê). Nhằm mục tiêu phản đối lại sự đoạt ngôi này, những bộ tộc Rang Đê mà bia ký gọi là Kiratas phất cờ vùng lên đưa hoàng tử Vancaraya lên làm vua ở Vijaya. Vua Jaya Harivarman I đã không còn gì chiêu thức khác để xử lý sự rủi ro khủng hoảng chính trị này, ra quyết định vào khoảng thời gian 1151 tiến công đoàn quân người Rang Đê and nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya chỉ huy. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu giúp viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000 chiến binh từ Thanh Hóa vào tiếp giúp nhưng bị vượt qua, Nguyễn Mông and Vancaraya đều bị tử vong. Tất cả những thung lũng ven núi như Êa Drang, Êa P, Êa Ryu địa chỉ người Rang Đê cư trú đều đặt sau sự kiểm soát và điều hành quay lại của Vua Jaya Harivarman I gốc người miền nam bộ Champa. Đây có khả năng là mối contact sớm nhất giữa bộ lạc Tây Nguyên với những người Việt.
  • Sri Agara Là 1 trong những thủ lĩnh gốc người Rang-Đê. Sau các thất bại của Vancaraya nhóm người Rang-Đê thường xuyên kháng cự không chịu đồng ý Ấn-Độ hóa bộ lạc Rang-Đê của những người Chăm.Năm 1191 tại Vijaya, Surya Jayavarman (hoàng tử In) bị Rasupati, một hoàng thân Champa, vượt qua phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận và đánh giá vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV (cựu vương Champa and cũng là cha của hoàng tử In) về Bắc Champa chiếm lại ngôi báu. Jaya Indravarman IV đc Suryavarman (hoàng thân Sri Vidyananda) tiếp sức mới thu được Vijaya, Rasupati (Jaya Indravarman V) bị xử trảm. Thay thế vì giao thành lại cho vua Champa cũ, Suryavarman chiếm luôn Vijaya; Jaya Indravarman IV liền huy động dân chúng tại Amavarati and những làng Ulik, Vyar, Jriy, Traik chống lại. Năm 1192, Jaya Indravarman IV bị tử vong tại Traik. Suryavarman thống nhất lại nước nhà, lên ngôi vua and tìm cách thức tách khỏi ảnh hưởng tác động của đế quốc Angkor. Hay tin hoàng thân Suryavarman làm phản, Jayavarman VII cử đại quân, trong các này còn có toàn bộ cơ thể Rang-Đê (do tướng Jai Ramya đứng đầu), sang đánh Champa. Đại chiến kéo dãn từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị vượt qua. Thay thế vì theo quân Khmer về nước, một người Rang-Đê tên Sri Agara chiếm một vùng đất to từ Amavarati đến Pidhyan (Phú Giang, bắc Phú Yên) rồi tự xưng vương năm 1193, hiệu Mtao Ayna PôKa. Tiếp nối, tướng Dhanapati đc lệnh vua Khmer đánh dẹp những cuộc làm mưa làm gió tại Champa, tính chất là người Êđê trên cao nguyên. Mtao Ayna PôKa bị tóm gọn sống đem về Campuchia trị tội and bị xử tử tại Angkor. Dhanapati đc phong toàn quyền cai quản xứ Champa. Champa biến thành một tỉnh của đế quốc Khmer đợt thứ hai.
  • Hbia Drah Hjan (1630-1654) là con gái của 1 thủ lĩnh ÊĐê Adham thuộc vùng Čư̆ Mgar, có những địa điểm gọi là H’ Drah Hjan Kpă, Ea Hleo hướng phía bắc Dak lak thời buổi này, H’ Drah Hjan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa trong tương lai biến thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của những người Việt. Truyện kể lại rằng:

Một thiếu nữ quyền quý và cao sang là dòng dõi Rhade đã hạ sinh một cô con gái trong đêm tháng 3 (âm lịch) lúc trời đất vào tầm khắc chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa đúng vào lúc năm mới ở những xứ Lào, Khmer, Xiêm La (Vương Quốc của nụ cười), cũng là năm mới trong thời điểm tháng lịch NNTT của những người E đê, Drah jan ra đời khi trời đất nổi các cơn sấm ầm ầm trong đêm and giọt mưa đầu mùa tí tách trút xuống như hạt máu vì sau tháng mùa khô ầy bụi đất, vì vậy mưa đầu mùa người Êđê gọi là ” Drah Hjan ” nghĩa là ” mưa máu ” là giọt mưa nước mắt bằng máu của ông bà tổ tiên (atau) khóc cho con cái bên dưới thế gian. Mẹ của Drah Hjan qua đời sau thời điểm bà hạ sinh Drah Hjan trong đêm lạ thường đó. Do đó tới hôm nay người Eđê vẫn tồn tại phong tục ” Kăm Mah” khi có giọt mưa đầu mùa kèm theo một số tiếng sấm thất kinh đất trời Tây Nguyên, Kăm mah nghĩa là ” kiêng cữ đeo trang sức quý vàng bạc ” tức là thiếu nữ Êđê chưa được ra bên ngoài trong mưa, không đeo vàng bạc trang sức quý vì đó là ngày 1 thiếu nữ Êđê quyền quý và cao sang qua đời cũng là ngày hạ sinh một nàng công chúa Drah Hjan kín đáo trong tương lai sẽ là bà hoàng của 1 Vương Quốc (Hơ Bia). Riêng người Chăm thì nhận định rằng theo một số nhà chiêm tinh Bà La Môn của Vua P rê mê thì hạt mầm nảy lộc làm vực lên quốc gia Chăm pa lại chính là từ người Rhade, những nhà thuật chiêm tinh của Poerme tin rằng Drah jan chính là vị thần có khả năng hồi phục nòi giống Chiêm Thành. theo đó đích thân P Rê mê sang vùng đất Rhade để rước Drah jan về, P rê mê vốn là người tin vàu thuật bói khóa, chiêm tinh, Dù ông nhiều bà xã nhưng duy nhất Drah Hjan là người hạ sinh nhiều con cháu cho hoàng triều nhất. Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc mang 3000 quân xâm chiếm vùng đất còn sót lại của Champa từ Nha Trang đến Sông Phan Rang. P Romê bị tóm gọn trong đại chiến này, ngài bị giam cầm vào Rọ, bỏ đói bỏ khát trê tuyến phố đưa về Huế, có lẽ rằng trê tuyến phố đi ngài đã tự tử (Lược sử Dân tộc bản địa Chàm Dohamide gọi là Ba Bì đã tự tử). Theo tục lệ đạo Bà La Môn, người ta hỏa thiêu xác vua, lúc đó chỉ có bà hoàng hậu Ê Đê là H’Bia Drah Hjan đã âm thầm lặng lẽ tiến đến gần nhẩy vào lửa chết theo chồng,vì hoàng hậu cả là bà Drah Jih theo đạo Hồi (Chăm BàNi) theo giáo luật Hồi giáo không giám tuẫn tiết theo vua. Để tưởng niệm đến một vị hoàng hậu sau cuối của Vương triều Champa này nên đc nhân dân thờ Bà trong 1 ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà đc dẫn vào tháp chính phía ở bên phải tượng Vua là người chồng của chính mình. Sự hi sinh chung thủy của Drah Hjan đến nỗi người Chăm coi bà như Nữ Thần and gọi là P Bia Drah Hjan. Đây có khả năng là mối contact sau cuối về hôn nhân gia đình giữa những triều đại Champa với những người Rangđêy. Người Chiêm Thành đã có rất nhiều các câu ca rằng:
Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, Drah Yang,Làm náo động sân đình chỉ vì thần P Rame xinh trai.Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, drah Yang, Vẻ đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên.(Drah Jan: hoàng hậu người Êđê, Drah Jih: hoàng hậu toàn bộ cơ thể Chăm Hồi giáo Bàni, Drah Yang: có quan điểm nhận định rằng những người dân vk P Reme theo Hồi giáo gốc Kelantan (Bắc Malaysia)”

Như thế vua P Reme 4 bà xã:

Một người Cham Bà-ni là công chúa hoàng đế P Muh Taha;

Một người Malaysia, để bang giao với thế gới Mã Lai.

Một người Ê đê, Vua P rê mê and những thuật sĩ chiêm tinh Bà La Môn lúc đó tin rằng để phục sinh sức khỏe Champa không tân tiến nhằm mục tiêu xây dựng lại cơ đồ vực lên hồi phục giống dân Chiêm Thành về sau;

And bà xã Việt là Công nữ Ngọc Khoa Bia Ut, như là kế hoãn binh với những người Việt để tái thiết nước nhà.

Thông báo khác: Tương truyền vào khoảng thời gian 1471, khi thân chinh cầm quân tiến công hủy diệt Champa,vua Lê Thánh Tông dừng chân ở chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên, ghi rõ cương vực Đại Việt (Nước ta thời buổi này) tại địa chỉ này. Chính vì như vậy, núi đc gọi là núi Đá Bia.Trên núi có một tảng đá cao 76m, tương truyền năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đi đến đây and cho khắc lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ chứng minh và khẳng định chủ quyền lãnh thổ Đại Việt.Về content văn bia, những dữ liệu có sự giải chép khác biệt, tựu trung có ba content như sau: “Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong, An Nam quá thử, tướng tru binh chiết” nghĩa là “Chiêm Thành đánh bại địa chỉ này, binh thua nước mất, An Nam đánh bại địa chỉ này, tướng chết quân tan”; hoặc “Dĩ Nam Chiêm Thành, dĩ Bắc dân triều mệnh Nước ta” nghĩa là “Từ đây về Nam là Chiêm Thành, từ đây về Bắc dân chịu mệnh Nước ta”; cũng xuất hiện dữ liệu bảo rằng văn bia chỉ là hai chữ “Hồng Đức”, là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông. Theo tryền thuyết người Êđê Phú Yên truyền thuyết thần thoại của những người Êđê, núi Đá Bia là Kut Hbia Bhi (mộ của bà HơBhí). Hbia Bhí là tên thường gọi khác của Hơbia Drah Hjan là người dân tộc bản địa Êđê, vk của vua Pôrômê là vị vua có tài năng của những người Champa xưa kia,sau thời điểm HơBia Bhí (1 trong các 3 người vk của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn to, đây chính là núi Đá Bia thời buổi này.

200px DSC05882

Núi Đá Bia, hướng phía nam Phú Yên – Theo Truyền thuyết thần thoại bảo rằng sau thời điểm HơBia Bhí (tên thường gọi khác của hoàng hậu Drah Jan) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn to, đây chính là núi Đá Bia thời buổi này.

200px Po Rome Cham temple

Tháp P Reme tại Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận thờ Vua P Remê and hoàng Hậu Drah Hjan người Êđê

  • Y Jut Hwing (1888-1934) ra đời tại Buôn Kram, xã Êa Tiêu trước đó thuộc huyện Krông Ana, nay thuộc huyện Čư̆ Kuiñ, tỉnh Dak Lak. Ra đời trong cảnh nước mất nhà tan, Y-Jut cùng những trẻ nhỏ nam khác bị thực dân Pháp bắt cóc and giao nộp cho Trường Prancios-Rhade để giảng dạy tri thức tay sai cho thực dân Pháp. tận dụng thời cơ này Y Jut quyết tâm học tập, đem ánh nắng văn hóa truyền thống quay lại giao hàng quê nhà, buôn làng and đây cũng là thời cơ cực tốt nhất để giải phóng đồng bào thoát khỏi ách áp bức bóc lột. Y Jút cực tốt nghiệp sơ học tại Trường Franco – Rhade Buôn Ama Thuôt, cực tốt nghiệp tiểu học ở Huế and năm 1912 học trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jut cực tốt nghiệp trung học, đc chỉ định làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm and khổ nhục của đồng bào do chế độ ngu dân của thực dân Pháp, ngay từ trong những năm đầu lấn sân vào nghề dạy học, Y Jút đã nuôi tham vọng giải thoát người ÊĐê thoát khỏi nạn mù chữ. Phối kết hợp với đồng chí như Y Ut Niê, Y Blŭl Êban khai phá mẫu tự La tinh and vần Êđê đưa ra bộ chữ viết Êđê thời buổi này. Tiếp nối bộ chữ đó được đốc học Angtoamaki and Sabatier tu chỉnh lại vào khoảng thời gian 1920. Latinh hóa tiếng Êđê and thầy đã thắng lợi. Không chỉ có vậy, Y Jút còn là người đảm nhận biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp(Rhade-Francios) đào thải giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) cần sử dụng để huấn luyện và giảng dạy ở trong nhà trường nghĩa là học viên địa phương Êđê học chữ Êđê trước kế tiếp mới học chức Pháp. Chữ Êđê là 1 trong các các bộ chữ của những tộc người địa phương Tây Nguyên đc gây dựng sớm nhất tại khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục tiêu mục tiêu giao hàng giáo dục, với lòng tin kiêu hãnh dân tộc bản địa, nhằm mục tiêu cứu cho những người Êđê có chữ viết. Về sau mới được những linh mục người Pháp, những mục sư Tin lành người Mỹ góp ý sửa chữa thay thế để chép kinh thánh bằng tiếng Êđê. Điều đó rất khác với giai đoạn gây dựng and dựng nên bộ chữ của một trong những tộc người Tây Nguyên khác ví như: Jarai, Bana, Ka Ho… đều do những đức cha giáo phận mời tri thức những dân tộc bản địa cùng nhập cuộc biên soạn, hướng chính vào mục tiêu thông dụng kinh thánh Cơ đốc and Tin lành. Trải qua không ít năm tháng, bộ chữ Êđê lúc đầu do hai thầy Y Jut and Y Ut biên soạn vẫn được nhìn nhận là khoa học nhất and không nhiều nếu không muốn nói là rất ít bị chỉnh sửa. Thời buổi này hầu như người Êđê cần sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc and qua đời năm 1934 tại Buôn Ama Thuôt còn Y-Ut Niê BuônRit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Trăp Krông Ana trong lúc trê tuyến phố về dạy học cho những trẻ nhỏ Êđê. Ông Y Ut cũng là một dân biểu chính phủ quốc hội trong cơ chế cũ Nước ta Cộng Hòa.

Những người dân Ê Đê có nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những người dân Ê Đê Nước ta có nổi tiếng
Tên Sinh thời Hoạt động và sinh hoạt
Y Jut Hwing 1888-1934 Nhân sỹ tri thức, người sáng tác chính của cục chữ viết Ê đê thời buổi này. Thời Pháp thuộc ông từng đảm nhận biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp (Rhade-Francios) đào thải giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) cần sử dụng để huấn luyện và giảng dạy ở trong nhà trường, quê nay là xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Y Bih Alêô 1901-1987 Nhập cuộc trào lưu đấu tranh chống Pháp do Y Jut and Y Ut chỉ huy, kế tiếp đi lính khố xanh cho Pháp. Năm 1945 ông theo Việt Minh, nhập cuộc các ủy cho ra đời chánh lâm thời. Tiếp nối nhập cuộc and tiếp nhận phó quản trị Chiến trường DTGP MNVN, quê xã Ea Nuôl, thị trấn Buôn Ma Thuột
Y Wang Mlô Aduôn Du ?-? Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc bản địa Chính phủ nước nhà Nước ta. quê Buôn Tring, phường An Lạc, Thi xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Y Blŏk Êban 1921-2018 Nợ tướng QĐNDVN, năm 1976 giữ chức Quản trị tỉnh Đăk Lăk, đại biểu QH Nước ta những khóa 3, 4, quê đô thị Buôn Ma Thuột
Y Ngông Niê Kdăm 1922-2001 Tri thức, bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân, Quản trị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đăk Lăk, quê thị xã Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tại Đăk Lăk
Y Bhăm Êñuôl 1923-1975 Người nhập cuộc thành lập và hoạt động and chỉ huy tổ chức triển khai FULRO, chính sách chấm hết nhận ra đối xử những dân tộc bản địa thiểu số, năm 1975 bị Khmer Đỏ sát hại tại Phnom Penh, quê Buôn Kram xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin, Đăk Lăk
H Ngăm Niê Kdăm ?-? Phó Quản trị Hội Liên hiệp Cô bé Nước ta
Y Ly Niê Kdăm 1944-… Đại biểu QH Nước ta khóa 11, Quản trị HĐND tỉnh Đăk Lăk, quê thị xã Ea Pôk, huyện Cư M’gar, Đăk Lăk
Niê Thuật 1956-… Đại biểu QH Nước ta khóa 13, quê xã Cư Drăm, huyện Krông Bông, Đăk Lăk
Y Moan Ênuôl 1957-2010 Thường gọi là Y Moan, nhạc sĩ, ca sĩ, đc phong Nghệ sĩ xuất sắc ưu tú and Nghệ sĩ Nhân dân, quê huyện M’Đrăk, Đăk Lăk
Y Tru Alio 1959-… Đại biểu QH Nước ta khóa 14, Ủy viên UBTW Chiến trường TQVN, quê xã Êa Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk
Y Biêr Niê 1963-… Đại biểu QH Nước ta khóa 14 (2016-2022), Quản trị HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê xã Cư Bao, thị trấn Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk
Y Thông 1966-… Đại biểu QH Nước ta khóa 13 (2011-2016), quê xã Ea Bá, huyện Sông Hinh, Phú Yên
H’Hen Niê 1992-… Hoa khôi Hoàn vũ Nước ta 2017, Top 5 Hoa khôi Hoàn vũ 2018, Timeless Beauty – Sắc đẹp vượt thời điểm 2018, quê buôn Sứt M’đưng, xã Cư Suê, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk

Bức Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ aăâJoshua Project. Ethnic People Group: E-de, Rade, 2019. Truy vấn 12/12/2020.
  2. ^ Công dụng tổng thể toàn bộ Tổng khảo sát số lượng dân sinh 2019. p. 44. Trọng tâm Tư liệu and Thương Mại & Dịch Vụ Đo đạc, Tổng chỉ huy cục Đo đạc, 19/12/2019. Truy vấn 1/09/2020.
  3. ^ Trái đất 54 dân tộc bản địa Nước ta. Cổng Thông báo điện tử Chính phủ nước nhà Nước ta, 2016. Truy vấn 12/12/2020.
  4. ^ Dân tộc bản địa Ê Đê. Cổng Thông báo điện tử Chính phủ nước nhà Nước ta, 2016. Truy vấn 01/04/2017.
  5. ^ aăBan lãnh đạo Tổng khảo sát số lượng dân sinh and căn hộ chung cư cao cấp TW. Tổng khảo sát số lượng dân sinh and căn hộ chung cư cao cấp Nước ta năm 2009: Công dụng tổng thể toàn bộ. Thành Phố Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy vấn ngày 10 tháng hai năm 2011
  6. ^ Ban lãnh đạo Tổng khảo sát số lượng dân sinh and căn hộ chung cư cao cấp TW Tổng khảo sát số lượng dân sinh and căn hộ chung cư cao cấp Nước ta năm 2009: Công dụng tổng thể toàn bộ. Thành Phố Hà Nội, 6-2010. Table 5, page 134
  7. ^ Monier-Williams Sanskrit-English Dictionary, p. 498 (scanned image at SriPedia Initiative): Sanskrit dakṣiṇa meaning ‘right’, ‘southern’.
  8. ^

    “Thomas Dorothy M. 1963. “Proto-Malayo – Polynesian reflexes in Rade, Jorai và Chru”‭. Studies in Linguistics 17: 59-75”.

  9. ^ “Y-Chang Niê Siêng and Kenneth Swain. 1971. Bài học kinh nghiệm tiếng Ra-đê.‭ Tủ sách ngữ điệu dân tộc bản địa thiểu số Nước ta, 7, pt.2. Thành Phố Sài Gòn: Bộ Giáo dục đào tạo”.
  10. ^ “Y-Chang Niê Siêng. 1979. Klei hriăm boh blŭ Êđê – Rade Vocabulary.‭ Tủ sách ngữ điệu dân tộc bản địa thiểu số Nước ta, 7. Manila: Viện Ngôn từ Summer. xiv, 345 trang”.
  11. ^ United Bible Societies. Bilingual New Testament Rade-Vietnamese, 2001 – ISBN 978-1-920714-32-1.
  12. ^ Nhà Xuất bản Tôn giáo, Kinh Thánh Tân Ước tuy nhiên ngữ Ê Đê-Việt, Thành Phố Hà Nội, 2006 – Số xuất bản 117-2006 CXB/203-10TG.
  13. ^ Việt Sử Toàn Thư, tr 141

Tìm hiểu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anne de Hautecloque – Howe, Nguyên Ngọc and Phùng Ngọc Cửu (dịch) (2004). Người Ê Đê – một thế gới mẫu quyền (bằng tiếng Việt). Thành Phố Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa truyền thống dân tộc bản địa.
  • Henri Maître, Lưu Đình Tuân, Nguyên Ngọc (dịch) (2008). Rừng người Thượng (bằng tiếng Việt). Thành Phố Hà Nội: Nhà xuất bản Tri Thức.Quản lý và điều hành CS1: nhiều tên: list người sáng tác (kết nối)
  • Nguyễn Hữu Thấu – Khan Đăm san and Khan Đam kteh Mlan
  • Luật tục Ê đê

Bài viết liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những dân tộc bản địa Nước ta
  • Tiểu quốc Adham

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Người Ê Đê tại Nước ta
  • Trang về người Ê Đê trên Ethnologue
  • Người Ê Đê trên The Peoples of World Foundation, tra giúp 20-12-2008
  • Người Ê Đê trên mạng
  • Cách thức cài gõ ngữ điệu “Ede Vietnamese” ở WinVNKey

Bài Viết: Người Êđê là gì? Chi tiết về Người Êđê mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Luật tố tụng là gì? Chi tiết về Luật tố tụng mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.