Luis Enrique (cầu thủ bóng đá) là gì? Chi tiết về Luis Enrique (cầu thủ bóng đá) mới nhất 2022

Tên người này làm theo phong tục tên thường gọi Tây Ban Nha; họ thứ nhất hay họ cha là Martínez and họ thứ 2 hay họ mẹ là García.

Luis Enrique
Luis Enrique 2014.jpg

Luis Enrique trên cương vị đào tạo viên trưởng Barca năm 2014

Thông báo cá thể
Tên vừa đủ Luis Enrique Martínez García
Ngày sinh 8 tháng năm, 1970 (51 tuổi)
Địa điểm sinh Gijón, Tây Ban Nha
Độ cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí đặt Tiền vệ
Thông báo câu lạc bộ

Đội lúc này

Tây Ban Nha (đào tạo viên)
Công danh cầu thủ trẻ
1981–1988 Sporting Gijón
1984–1988 → La Braña (mượn)
Công danh cầu thủ chuyên nghiệp và bài bản*
Năm Đội ST (BT)
1988–1990 Sporting B 27 (5)
1989–1991 Sporting Gijón 36 (14)
1991–1996 Real Madrid 157 (15)
1996–2004 Barcelona 207 (73)
Tổng số 427 (107)
Đội tuyển đất nước
1990–1991 U-21 Tây Ban Nha 5 (0)
1991–1992 U-23 Tây Ban Nha 14 (3)
1991–2002 Tây Ban Nha 62 (12)
Những đội đã đào tạo
2008–2011 Barcelona B
2011–2012 A.S. Roma
2013–2014 Celta
2014–2017 Barcelona
2018–2019 Tây Ban Nha
2019– Tây Ban Nha
* Số trận ra sân and số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp và bài bản chỉ được xem cho giải đất nước

Luis Enrique, tên vừa đủ Luis Enrique Martínez García, (sinh 8 tháng năm năm 1970 tại Gijon) là một cựu cầu thủ and hiện là đào tạo viên của đội tuyển Tây Ban Nha.

Lúc còn chơi bóng, ông đình đám với việc nhanh gọn and rất có thể chơi đc tổng thể những nơi đặt trong công danh sự nghiệp bóng đá của bản thân mình, thậm chí còn là cả trung vệ hay là thủ môn. Mặc dù thế ông chơi rất tốt hơn hết với tầm quan trọng là tiền về trọng tâm, và cũng đã ghi được rất nhiều bàn thắng trong công danh sự nghiệp tranh tài của bản thân mình. Sau khoản thời gian mở màn công danh sự nghiệp của bản thân mình tại Sporting de Gijón năm 1989, ông gắn bó với tất cả hai câu lạc bộ to của Tây Ban Nha, trước tiên là Real Madrid từ thời điểm năm 1991-96 and rồi chuyển qua FC Barcelona theo phương thức chuyển nhượng ủy quyền độc lập. Câu lạc bộ này sẽ không mấy tin cậy vào người mới của bản thân mình thế nhưng ông đã hối hả lấy đc tinh thần của mình and chẳng bao lâu sau ông biến thành đội trưởng của Barcelona. Anh tranh tài cho Barca trong 8 năm (1996-2004). Ông chơi cho đội tuyển bóng đá đất nước Tây Ban Nha ở 3 kỳ World Cup: 1994, 1998, 2002 and kỳ Euro 1996. Ông khoác áo đội tuyển các chú bò tót này 62 lần and ghi đc 12 bàn thắng. Ông cũng là cá thể đội tuyển Tây Ban Nha giành huy chương vàng Olympic ngày hè 1992 ở Barcelona. Ngày 10 tháng tám năm 2004, ông giải nghệ ở tuổi 34.[1] Vào thời điểm tháng 3 năm 2004, anh đc bầu vào list FIFA 100.[2]

Năm 2008, Enrique là đào tạo viên đội Barca B and cứu đội bóng này giành 2 Secunda Liga tiếp tục 2009-2010 and 2010-2011. Quan hệ gần gũi của ông với những người bạn bè cũ, Pep Guardiola – người cũng rất được chỉ định cùng lúc làm đào tạo viên F.C. Barcelona vào thời điểm năm 2008 and đưa đội bóng quay trở lại hình ảnh số một cộng đồng – hỗ trợ cho đội Barca B and lò đào tạo và huấn luyện La Masia dành được vô cùng với rất nhiều lừng danh trong những việc đào tạo và huấn luyện trẻ and đưa họ lên đội hình 1.

Năm 2011, quyết tâm đi kiếm thách thức mới, Luis Enrique ra quyết định làm đào tạo viên của A.S. Roma. Tháng bảy năm trước đó, Enrique là đào tạo viên của Celta Vigo. Tháng sáu năm 2014, Enrique biến thành đào tạo viên của FC Barcelona.[3] Năm 2017, ông chia ly đội bóng sau thời điểm vô địch cúp Hoàng đế Tây Ban Nha 2017.[4]

Công danh cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Enrique ra đời tại Gijón, Asturias, and thuở đầu chơi bóng cho câu lạc bộ bản địa Sporting de Gijón,[5] địa điểm anh gắn kèm với biệt danh Lucho sau Luis Flores, một tiền đạo người Mexico trong đội.[6] Tiếp đến ông dành số đông thời khắc chơi bóng cho hai đội bóng to nhất của Tây Ban Nha: trước tiên là Real Madrid trong thời hạn mùa[7] and năm 1996, sau thời điểm kết thúc HĐ, ông chuyển qua đại kình địch FC Barcelona theo phương thức chuyển nhượng ủy quyền độc lập.[8] Cổ động viên xứ Catalan lúc đầu còn chần chờ về vụ chuyển nhượng ủy quyền này, nhưng ông sớm có được con tim của mình and chơi bóng cho Barca tám năm, ở đầu cuối biến thành đội trưởng, and ghi một trong những bàn thắng trong số trận El Clásico trước chính đội bóng cũ Real.[9] Lúc còn khoác áo Real, ông đã từng gây nên dấu ấn khi ghi bàn trong trận thắng sân nhà 5-0 trước Barcelona, nhưng bảo rằng tiếp đến ông “cảm nhận hiếm khi được những cổ động viên Real Madrid đánh giá và nhận định and không tồn tại các kỉ niệm xinh ở đó”.[10]

Nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Enrique chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong ba kì World Cup: 1994, 1998 and 2002, tương tự như Euro 1996) and ghi 12 bàn thắng sau 62 lần khoác áo. Ông cũng là cá thể trong đội hình giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa nắng nóng 1992 ở Barcelona,[11] and có 13 lần ra sân trong đội hình chính vào trong ngày 17 tháng tư năm 1991, trong những số đó có 22 phút trong trận giao hữu thua 0-2 trước România tại Cáceres.[12]

Tại World Cup 1994 tổ chức triển khai tại Mỹ, Luis Enrique ghi bàn thắng trước tiên trong trận thắng 3-0 ở vòng 16 đội trước Thụy Sĩ ở Washington, D.C.[13] Trong thất bại 1-2 ở vòng tứ kết trước Ý tại sân hoạt động Foxboro, cùi trỏ của Mauro Tassotti đã đập vào mặt ông làm chảy máu,[14] ảnh hưởng tác động ấy đã khiến Luis bị mất gần một cân máu. Mặc dù thế hành động đó không xẩy ra nhận hình phạt nào trong trận đấu, tiếp đến Tassotti đã trở nên cấm tám trận and không lúc nào tranh tài thế giới nữa.[15]

Công danh đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona B[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng năm năm 2008, Luis Enrique quay trở lại Barcelona, tiếp quản nơi đặt đào tạo của đội B vừa mới được thay tên thành Barcelona Atlètic trong dịp giải đó.[16] Vào thời điểm giữa tháng 3 năm 2011, Luis Enrique công bố ông sẽ rời Barcelona B vào thời điểm cuối mùa, mặc dầu vẫn còn đấy 2 năm trong HĐ.[17] Ông đã đưa đội bóng đến trận playoff, nhưng còn thiếu tình huống để thăng hạng.[18]

Roma[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng sáu năm 2011, Luis Enrique đạt một thỏa thuận hợp tác với câu lạc bộ từ Serie A A.S. Roma để biến thành vị thuyền trưởng mới của Gialloross. Ông ký một HĐ 2 năm kèm với đội ngũ đào tạo gồm bốn người: trong những số đó có cộng tác viên kĩ thuật là Iván de la Peña, người từng chơi 2 năm cho đội bóng kình địch cùng TP S.S. Lazio.[19]

Roma bị loại bỏ khỏi UEFA Europa League bởi ŠK Slovan Bratislava, Một trong những bàn luận nóng bức về việc thay lịch sử một thời Francesco Totti bằng cầu thủ Stefano Okaka. Đội bóng thủ đô cũng nhận trận thua trước tiên tại giải trong nước trước Cagliari Calcio, khắc ghi trận thua thuở đầu thứ ba của đội trong 18 năm.[20]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

150px Luis Enrique 2014

Luis Enrique dẫn dắt Barcelona năm 2014

Ngày 19 tháng năm năm 2014, có thông báo có phát ngôn Luis Enrique sẽ quay trở lại Barcelona để triển khai đào tạo viên, sau thời điểm chấp thuận đồng ý một bản HĐ ba năm. Ông đc kiến nghị HĐ bởi giám đốc thể thao Andoni Zubizarreta, cựu bạn bè ở tuyển đất nước.[3] Trận đấu trước tiên của ông là trận thắng 3-0 trên sân nhà trước Elche CF, địa điểm ông cho reviews các bản HĐ mới như Claudio Bravo, Jérémy Mathieu and Ivan Rakitić, and loại sản phẩm cây nhà lá sân vườn Munir El Haddadi, Rafinha and Sandro Ramírez, trong những khi kinh khủng ngày hè Luis Suárez vắng mặt do bị treo giò.[21]

Mặc dầu để thua sân khách trước Real Sociedad, chứa một điều chỉnh đáng chú ý trong phong độ của Barcelona sau thời điểm Enrique điều chỉnh đội hình. Ông cân đối kỷ lục 11 thành công tiếp tục của Pep Guardiola,[22] trong những khi đội liên tiếp vượt qua Atlético Madrid and Villarreal CF một phương pháp thuyết phục tại cúp Hoàng đế để tiến đến trận chung cuộc. Tại giải quốc nội, sau thời điểm thắng 8 trên 9 trận, đội bóng đã quay trở lại nơi đặt đầu bảng sau 15 tuần.[23]

Ngày 21 tháng tư năm 2015, Luis Enrique khiến cho trận thắng thứ 42 sau 50 trận dẫn dắt Barcelona với thành công 2-0 trước Paris Saint-Germain, một kỷ lục của 1 đào tạo viên.[24] Ông đưa đội bóng đến trận chung cuộc của UEFA Champions League and vào trong ngày 17 tháng năm, ông cứu Barca đạt danh hiệu vô địch đất nước thứ 23 sau trận thắng 1-0 trước Atlético Madrid tại sân hoạt động Vicente Calderón.[25][26] Ngày 6 tháng sáu, sau thời điểm đoạt cúp trong nước trước Athletic Bilbao với cùng tỉ số trên, Barcelona hoàn tất cú ăn ba với trận thắng 3-1 trước Juventus trong trận chung cuộc giới thiệu tại Berlin,[27] and ba ngày sau ông đã đặt bút kí bản HĐ mới đến 2017.[28]

Đo lường công danh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[29]
Câu lạc bộ Mùa bóng Giải quốc nội Cúp Âu Lục Khác[nb 1] Tổng số
Giải đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Sporting Gijón 1989-90 La Liga 1 1 0
1990-91 35 14 9 3 44 17
Tổng số 36 14 9 3 45 17
Real Madrid 1991-92 La Liga 29 4 6 1 6 41 5
1992-93 34 2 6 8 1 48 3
1993-94 28 2 4 1 6 2 40 3
1994-95 35 4 2 6 43 4
1995-96 31 3 8 2 41 3
Tổng số 157 15 18 2 34 1 4 213 18
Barcelona 1996-97 La Liga 35 17 7 1 7 2 51 18
1997-98 34 18 6 3 6 4 1 47 25
1998-99 26 11 3 3 1 2 34 12
1999-2000 19 3 5 3 7 6 2 33 12
2000-01 28 9 4 1 9 6 41 16
2001-02 23 5 15 6 38 11
2002-03 18 8 8 2 26 10
2003-04 24 3 1 5 2 30 5
Tổng số 207 73 26 8 60 27 7 300 109
Tổng số công danh sự nghiệp 400 102 53 13 94 28 11 558 144
Ghi chú
  1. ^ Gồm có Supercopa de España

Nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

[30]

Tây Ban Nha
Năm Số trận Bàn thắng
1991 1 0
1992 0
1993 2 0
1994 9 3
1995 8 0
1996 9 2
1997 4 2
1998 8 1
1999 8 4
2000 3 0
2001 5 0
2002 5 0
Tỏng cộng 62 12

Bàn thắng thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉ số and tác dụng liệt kê bàn thắng của Tây Ban Nha trước[31]

Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Công danh cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid
  • La Liga: 1995[32]
  • Cúp hoàng đế (Copa del Rey): 1993[33]
  • Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de Espana): 1993[34]
FC Barcelona
  • La Liga: 1998[35], 1999[36]
  • Cúp hoàng đế (Copa del Rey): 1997[37], 1998[38]
  • Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de Espana): 1996[39]
  • UEEA cup Winners’ cup (C2): 1997[40]
  • Siêu cúp âu lục (UEEA Super Cup): 1997
Nước ngoài
  • Thế vận hội Mùa nắng nóng: 1992[41]

Công danh đào tạo viên[sửa | sửa mã nguồn]

FC Barcelona
  • La Liga: 2014–15, 2015–16[42]
  • Cúp Hoàng đế: 2014–15, 2015–16, 2016–17[42]
  • Supercopa de España: 2016[42]
  • UEFA Champions League: 2014–15[42]
  • Siêu cúp châu Âu: 2015[42]
  • FIFA Club World Cup: 2015[42]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Luis Enrique bows out; Đài truyền hình BBC Thể Thao, 10 August 2004
  2. ^ Pele’s danh sách of the greatest; Đài truyền hình BBC Thể Thao, 4 March 2004
  3. ^ aă

    “Barcelona appoint Luis Enrique as first-team coach”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. 19 tháng năm năm 2014. Truy vấn ngày 19 tháng năm năm 2014.

  4. ^ Luis Enrique tính chuyển nghề sau thời điểm chia ly Barca. Bóng đá.com
  5. ^ “Aires de funeral en Asturias” [Funeral march sounds in Asturias]. Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). 3 tháng sáu năm 1991. Truy vấn ngày 29 tháng sáu năm 2017.
  6. ^ Mitten, Andy (6 tháng 10 năm trước đó). “Luis Enrique: ‘We think Messi is normal. I can’t understand how a player got lớn that level”. FourFourTwo. Truy vấn ngày 7 tháng sáu năm 2015.
  7. ^ “Nando compra su carta de libertad para poder fichar por el Madrid” [Nando buys out his contract in order to sign with Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. 9 tháng bảy năm 1992. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  8. ^ “Luis Enrique ficha por el Barça por cinco temporadas” [Luis Enrique signs for Barça for five seasons] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. 28 tháng năm năm 1996. Truy vấn ngày 20 tháng năm năm 2014.
  9. ^ “Un gol con sabor a venganza” [Revenge-flavoured goal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. 2 tháng 11 năm 1997. Truy vấn ngày 20 tháng năm năm 2014.
  10. ^ Lowe, Sid (23 tháng 10 năm 2014). “Barca manager Luis Enrique doesn’t have fond memories of Real Madrid”. ESPN FC. Truy vấn ngày 28 tháng hai năm 2015.
  11. ^ “La Roja de 1992, nuestra medalla de oro Olímpica” [1992’s La Roja, our Olympic gold medal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Antena 3. 3 tháng bảy thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 13 tháng bảy năm 2017.
  12. ^ De nuevo vencidos y sin gloria (Again beaten hopelessly); Mundo Deportivo, 18 April 1991 (in Spanish)
  13. ^ “New Barcelona boss Luis Enrique scores for Spain at 1994 World Cup”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. 20 tháng năm năm 2014. Truy vấn ngày 20 tháng năm năm 2014.
  14. ^ “Luis Enrique full of respect”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. 20 tháng sáu năm 2002. Truy vấn ngày 16 tháng bảy năm 2014.
  15. ^ Date set for Hendry decision; Đài truyền hình BBC Thể Thao, 3 tháng tư năm 2001
  16. ^ Luis Enrique, nuevo entrenador del Barcelona B (Luis Enrique, new Barcelona B coach); El País, 26 May 2008 (in Spanish)
  17. ^ Luis Enrique se va a final de temporada (Luis Enrique leaves at the end of season) Tàng trữ 2011-04-25 tại Wayback Machine; FC Barcelona, 15 March 2011 (in Spanish)
  18. ^ “Eusebio quiere igualar al filial de Luis Enrique” [Eusebio wants to match Luis Enrique’s reserves] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Marca. 3 tháng sáu năm 2014. Truy vấn ngày 14 tháng năm 2016.
  19. ^ “Luis Enrique ha firmato “Farò calcio spettacolo” [Luis Enrique has signed “I will produce spectacular football”] (bằng tiếng Italy). La Repubblica. 8 tháng sáu năm 2011. Truy vấn ngày 27 tháng một 2016.
  20. ^ Serie A – Enrique’s Roma lose opener; Yahoo! Sports, 11 tháng chín năm 2011
  21. ^ Cryer, Andy (24 tháng tám năm 2014). “Barcelona 3–0 Elche”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. Truy vấn ngày 25 tháng tám năm 2014.
  22. ^ Barcelona: Are we seeing the reawakening of Pep Guardiola’s side?; Bleacher Report, 26 February 2015
  23. ^ FC Barcelona v Rayo Vallecano: Storming lớn the top of the table! (6–1); FC Barcelona, 8 March 2015
  24. ^ “Barcelona manager Luis Enrique targets Champions League title”. Sky Sports. 22 tháng tư năm 2015. Truy vấn ngày 24 tháng tư năm 2015.
  25. ^ “Lionel Messi hands Barcelona 23rd La Liga title”. The Daily Telegraph. 17 tháng năm năm 2015. Truy vấn ngày 19 tháng năm năm 2015.
  26. ^ “Barcelona win La Liga: 10 key factors behind their revival”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. 17 tháng năm năm 2015. Truy vấn ngày 19 tháng năm năm 2015.
  27. ^ “Barcelona see off Juventus lớn claim fifth title”. UEFA.com. 6 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 6 tháng sáu năm 2015.
  28. ^ “Barcelona: Coach Luis Enrique extends contract lớn 2017”. Đài truyền hình BBC Thể Thao. 9 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 9 tháng sáu năm 2015.
  29. ^ “Luis Enrique”. Footballdatabase. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  30. ^ Luis Enrique Martínez García – Goals in International Matches; at RSSSF
  31. ^ “Luis Enrique”. European Football. Truy vấn ngày 6 tháng sáu năm 2015.
  32. ^ “Un pasillo y muchos bostezos” [Guard of honour and yawns aplenty] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 11 tháng sáu năm 1995. Truy vấn ngày 22 tháng năm năm 2015.
  33. ^ “Una Copa para el consuelo” [Consolation Cup] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 27 tháng sáu năm 1993. Truy vấn ngày 23 tháng năm năm 2015.
  34. ^ “El Barça se estrella contra la mala suerte” [Barça crashes into bad luck] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 17 tháng 12 năm 1993. Truy vấn ngày 23 tháng năm năm 2015.
  35. ^ “Adiós con sonrojo” [Embarrassing goodbye] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 16 tháng năm năm 1998. Truy vấn ngày 23 tháng năm năm 2015.
  36. ^ “Despedida a lo gran campeón” [Curtain call as a great champion] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 14 tháng sáu năm 1999. Truy vấn ngày 23 tháng năm năm 2015.
  37. ^ “Barça de titanes” [Titanic Barça] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 29 tháng sáu năm 1997. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  38. ^ “La Copa más histórica” [The most historical Cup] (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 30 tháng tư năm 1998. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  39. ^ “Título con súper-susto” [Title with mega-scare] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. 29 tháng tám năm 1996. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  40. ^ “1996/97: Ronaldo spot on for Barça”. UEFA.com. 14 tháng năm năm 1997. Bản gốc tàng trữ ngày 3 tháng năm năm 2010. Truy vấn ngày 21 tháng năm năm 2015.
  41. ^ “El triunfo en el fútbol, broche de oro para España en Barcelona 92” [Football win, icing on the cake for Spain in Barcelona 92] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Dame Un Silbidito. tháng tư năm 2010. Bản gốc tàng trữ ngày 20 tháng ba năm 2014. Truy vấn ngày 22 tháng năm năm 2015.
  42. ^ aăâbcd“Luis Enrique”. Soccerway. Truy vấn ngày 27 tháng một 2016.

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • FC Barcelona
  • Luis Enrique tại BDFutbol
  • Tiểu sử quản lý và điều hành Luis Enrique tại BDFutbol
  • Luis Enrique tại National-Football-Teams.com
  • Luis Enrique – Thành tích tranh tài FIFA

Bài Viết: Luis Enrique (cầu thủ bóng đá) là gì? Chi tiết về Luis Enrique (cầu thủ bóng đá) mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Cognac (quận) là gì? Chi tiết về Cognac (quận) mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.