Lữ Mộng Lan là gì? Chi tiết về Lữ Mộng Lan mới nhất 2022

Lữ Mộng Lan (1927–2022) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực VN Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng.[5] Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân đc Cơ quan chính phủ Đất nước VN xuất hiện ở Cao nguyên Trung phần VN. Rất tốt nghiệp ông đc Giao hàng đơn vị chức năng Bộ binh. Ông đã mở đầu chỉ đạo đơn vị chức năng từ cấp Trung đội and tuần tự lên tới Lãnh đạo cấp Sư đoàn. Ông cũng từng là Tư lệnh một Binh đoàn của VN Cộng hòa. Cùng với trách nhiệm chỉ đạo đơn vị chức năng Bộ binh, ông cũng khá được chỉ đạo những cơ sở huấn luyện và giảng dạy Lực lượng lao động của Quân đội.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 28 tháng chín năm 1927 trong 1 hạnh phúc gia đình Nho giáo tài chính khá giả tại làng Minh Hương, xã Triệu Thượng, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, miền Trung VN. Thời niên nợ ông học Tiểu học tại Quảng Trị. Lên Trung học ông đc hạnh phúc gia đình cho về Huế học ở trường Trung học Lycée Khải Định (nói một cách khác là trường Quốc học). Năm 1945, ông tốt nhất nghiệp bằng DEPSI (Thành Chung). Hai năm tiếp theo ông đậu bằng Tú tài bán phần (Part I). Đc bổ dụng làm Giáo chức ở Quảng Trị cho tới ngày du nhập Quân đội.

Quân đội Đất nước VN[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng chín năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Đất nước, mang số quân: 47/202.901. Đc theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày một tháng 10 năm 1950. Ngày một tháng bảy năm 1951 mãn khóa tốt nhất nghiệp với cấp bậc Nợ úy hiện dịch. Ra trường, đc chuyển về đơn vị chức năng Bộ binh giữ chức danh Trung đội trưởng của Đại đội số 20 thuộc Trung đoàn Võ Tánh, tiếp đến chuyển qua Đại đội số 18 cùng Trung đoàn với chức danh Đại đội trưởng. Ở thời gian cuối năm 1952, ông đc thuyên chuyển về Tiểu đoàn 254 Dã chiến VN giữ chức danh Tiểu đoàn trưởng. Ngày 2 tháng một năm 1953, ông đc thăng cấp Trung úy và đã được đi dự lớp Tham mưu khóa 1 tại Centre d’Etudes Militaire, TP Hà Nội. Tháng ba năm 1954, tốt nhất nghiệp lớp Tham mưu, ông đc chuyển về Liên đoàn 21 Lưu động (thuộc Đệ Nhị Quân khu) giữ chức danh Trưởng phòng ban 3. Sau khoản thời gian Liên đoàn 21 được thiết kế chủ lực để thành lập và hoạt động Sư đoàn Dã chiến số 21, ông biến thành Trưởng phòng tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Tháng tám cùng năm, ông đc thăng cấp Đại úy tại nhiệm.

Quân đội VN Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm giữa tháng 6 năm 1955, ông đc thăng cấp Nợ tá tại nhiệm. Thời điểm cuối tháng 10 cùng năm, sau thời điểm Thủ tướng Ngô Đình Diệm cải danh Quân đội Đất nước thành Quân đội VN Cộng hòa. Nhân thời cơ này ông đươc cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 16 Khinh chiến, do Trung tá Nguyễn Thế Như[6]. Ngày 20 tháng một năm 1956, ông đc lên giữ chức danh Tư lệnh phó Sư đoàn 16. Thời điểm giữa tháng 4 cùng năm, ông đc chỉ định chức danh Tư lệnh Sư đoàn 2 Dã chiến.[7]

Thời điểm cuối tháng một năm 1957, ông đc thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Tháng tám cùng năm, ông đc cử đi du học lớp Chỉ Huy Tham mưu (16 tuần) tai Học viện chuyên nghành Fort Leavenworth, Kansas, Đất nước Hoa Kỳ (từ 11/8/1957 đến 20/12/1957). Thời điểm đầu tháng một năm 1958, mãn khóa huấn luyện Lãnh đạo Tham mưu, ông liên tục theo học lớp Air Tactical Hỗ trợ tư vấn tại San Diego, California trong khoảng 2 tuần (từ 2/1/1958 đến 17/1/1958). Ngày 27 tháng hai, sau thời điểm về nước, ông đc cử giữ chức danh Phụ tá Tham mưu Trưởng Bộ Tổng Tham mưu. Hai tháng sau (ngày 30 tháng bốn), giữ chức danh Tham mưu phó Hành quân and Giảng dạy kiêm Trưởng phòng 3 Bộ Tổng tham mưu. Ngày 26 tháng hai năm 1961, ông đc thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Đến ngày 8 tháng 12 năm 1962, ông đc chỉ định chức danh Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh[8] kiêm Tư lệnh Biệt khu Tỉnh Quảng Ngãi sửa chữa thay thế Đại tá Nguyễn Văn Chuân.

Ngày 17 tháng sáu năm 1964, chuyển giao Sư đoàn 25 lại cho Đại tá Nguyễn Viết Đạm, chuyển ra Cao nguyên Trung phần, ông đc cử giữ chức danh Phụ tá Hành quân cho Tư lệnh Binh đoàn II. Kế tiếp ông đc kiêm nhiệm làm Tham mưu trưởng Binh đoàn. Ngày 14 tháng 10 cùng năm, ông đc chỉ định làm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh ở Ban Mê Thuột. Một tuần lễ sau ông đc thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 13 tháng bốn năm 1965, ông đc đề cử giữ chức danh Chánh thẩm Dự khuyết Tòa án nhân dân Chiến trường Quân sự chiến lược Vùng 2 Giải pháp sửa chữa thay thế Đại tá Bùi Văn Mạnh[9]. Tháng tám cùng năm, ông thuyên chuyển về Quân khu 3 hoán chuyển với Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh giữ chức danh Tư lệnh Sư đoàn 10 Bộ binh and khu 33 Giải pháp (tướng Mạnh chuyển ra Cao nguyên Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh). Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa, ông đc thăng cấp Nợ tướng tại nhiệm.

Ngày 15 tháng sáu năm 1966, chuyển giao Sư đoàn 10 lại cho Đại tá Đỗ Kế Giai, chuyển lên Cao nguyên Trung phần, ông đc chỉ định chức danh Lãnh đạo trưởng Trường Lãnh đạo and Tham mưu ở Đà Lạt sửa chữa thay thế Nợ tướng Tôn Thất Xứng, kiêm Thay mặt Bộ Tổng tham mưu and Tổng chỉ huy cục Quân huấn, thống kê giám sát trường Võ bị Đất nước Đà Lạt. Thời điểm đầu tháng 12 cùng năm, chuyển về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức danh Tổng chỉ huy cục trưởng Tổng chỉ huy cục Quân huấn sau thời điểm chuyển giao trường Lãnh đạo Tham mưu lại cho Đề đốc Chung Tấn Cang. Ngày 12 tháng 10 năm 1967, ông kiêm nhiệm luôn chức danh Lãnh đạo trưởng trường Cao đẳng Quốc phòng.

Thời điểm đầu tháng 3 năm 1968, hoán đổi trách nhiệm với Trung tướng Vĩnh Lộc đảm trách chức danh Tư lệnh Binh đoàn II (vẫn kiêm nhiệm Lãnh đạo trưởng trường Cao đẳng Quốc Phòng đến tháng tám năm 1969). Ngày một tháng ba năm 1969, ông đc thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Thời điểm cuối tháng 8 năm 1970, chuyển giao chức danh Tư lệnh Binh đoàn II lại cho Nợ tướng Ngô Du, ông đc về lại TW tái nhiệm chức danh Lãnh đạo trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng and ở chức danh này cho tới tháng cuối thời điểm tháng 4 năm 1975.

  • Trường Cao đẳng Quốc phòng vào tháng 4/1975, nhân sự tại Bộ chỉ đạo của trường đc phân chia nghĩa vụ và trách nhiệm như sau:

-Lãnh đạo trưởng – Trung tướng Lữ Lan
-Lãnh đạo phó – Chuẩn tướng Lê Trung Trực
-Phụ tá Lãnh đạo trưởng[10] – Đại tá Vũ Quang[11].

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng bốn, ông cùng hạnh phúc gia đình di dời khỏi VN. Kế tiếp đc sang an cư ở Tiểu bang Virginia, Đất nước Hoa Kỳ.

Ngày 28 tháng năm năm 2022, ông từ trần tại địa điểm an cư, hưởng thọ 95 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)
-Chương Mỹ Bội tinh đệ nhất hạng
-Một trong những Can đảm Bội tinh với nhành dương liễu
-Nhiều huy chương quân sự chiến lược and án dân sự khác
-Huy chương UL CHI – Đại Hàn (Korea order of Military Meritt)
-Bạch tượng Bội tinh – Thái Lan (The order of White Elephant)
-Vân mỹ Bội tinh – China Đất nước (The order of Cloud và Banner)

[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phụ vương: Cụ Lữ Mộng Liên.
  • Thân mẫu: Cụ Lê Thị Minh Nguyệt.
  • Bào đệ: Ông Lữ Mộng Chi Sinh vào năm 1928 tại Quảng Trị, tốt nhất nghiệp khóa 2 Lê Lợi trường Võ bị Bản địa Trung Việt (nói một cách khác là trường Sĩ quan Đập Đá, Huế). Chức danh cuối cùng: Đại tá GĐ Nha Nhân dụng thuộc Bộ Lao động VN Cộng hòa.
  • Phu nhân: Bà Tôn Nữ Minh Đức (1933-2017)
Ông bà có 6 đứa con (3 trai, 3 gái):
Lữ Anh Tuấn, Lữ Anh Thư, Lữ Anh Kiệt, Lữ Anh Đài, Lữ Anh Triết and Lữ Anh Tú.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sư đoàn 16 Khinh chiến đc thành lập và hoạt động ngày một tháng tám năm 1955. Thời điểm đầu tháng 4 năm 1959 hợp cùng Sư đoàn 15 Khinh chiến biến thành Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Lữ Lan có hai lần Giao hàng ở Sư đoàn 23 Bộ binh. Đợt thứ nhất: Nợ tá Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 16 Khinh chiến (1956-1957). Đợt thứ 2: Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh (1964-1965).
  2. ^ Ba lần Giao hàng tại Bộ Tổng Tham. Đợt thứ nhất: Trung tá Phụ tá Tham mưu trưởng kiêm Trưởng phòng 3 (1958-1962). Đợt thứ 2: Nợ tướng Tổng chỉ huy cục trưởng Tổng chỉ huy cục Quân huấn (1966-1968). Đợt thứ 3: Trung tướng Tổng Thanh tra Quân lực (1970-1974).
  3. ^ Hai lần Giao hàng ở Binh đoàn II. Đợt thứ nhất: Đại tá Phụ tá Tư lệnh đặc trách Hành quân kiêm Tham mưu trưởng Binh đoàn (1964). Đợt thứ 2: Nợ tướng rồi Trung tướng Tư lệnh Binh đoàn (1968-1970)
  4. ^ Sư đoàn 10 Bộ binh đc thành lập và hoạt động ngày 16 tháng năm năm 1965 tại Long Khánh. Ngày một tháng một năm 1967 cải danh thành Sư đoàn 18 Bộ binh.
  5. ^ Tướng Lữ Lan mang tên không thiếu là Lữ Mộng Lan nhưng vào khoảng thời gian 1962, lúc còn ở cấp Đại tá, ông đã trình tòa thay tên, nên sau đây ông đc quen gọi theo tên Lữ Lan.
  6. ^ Trung tá Nguyễn Thế Như, tốt nhất nghiệp khóa 1 Nguyễn Văn Thinh Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, sau lên Đại tá Lãnh đạo trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, giải ngũ năm 1964
  7. ^ Sư đoàn 2 Dã chiến đc thành lập và hoạt động ngày một tháng tám năm 1955 tại Thành Phố Đà Nẵng. Sư đoàn 2 trước đây mang tên là Sư đoàn 32 Bộ binh (hậu thân của Liên đoàn Lưu động số 32 thành lập và hoạt động ngày 3 tháng 11 năm 1953 tại Tỉnh Ninh Bình). Ngày một tháng 12 năm 1958, Sư đoàn 2 Dã chiến thay tên lần cuối thành Sư đoàn 2 Bộ binh.
  8. ^ Sư đoàn 25 Bộ binh đc thành lập và hoạt động ngày một tháng bảy năm 1962 tại Tỉnh Quảng Ngãi. do Đại tá Nguyễn Văn Chuân làm Tư lệnh thứ nhất. Sau đây vận động và di chuyển về miền Đông Nam phần, nghĩa vụ và trách nhiệm bảo an một trong những tỉnh thuộc Quân khu 3 and là 1 trong các ba đơn vị chức năng nòng cốt của Binh đoàn III
  9. ^ Đại tá Bùi Văn Mạnh tốt nhất nghiệp khóa 5 Võ bị Liên quân Đà Lạt, về sau làm Đo lường viên ở Viện Giám Sát Quốc Gia
  10. ^ Kiêm Trưởng khối Giảng huấn
  11. ^ Đại tá Vũ Quang sinh vào năm 1929 tại HĐ Hà Đông, tốt nhất nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực VN Cộng hòa.

Bài Viết: Lữ Mộng Lan là gì? Chi tiết về Lữ Mộng Lan mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Hoa Hâm là gì? Chi tiết về Hoa Hâm mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.