Living Things (album của Linkin Park) là gì? Chi tiết về Living Things (album của Linkin Park) mới nhất 2022

Bài này viết về album của Linkin Park. Nếu như với định nghĩa cùng tên khác, xem Living Things (triết lý).

Living Things
Linkin Park - Living Things.jpg
Album phòng thu của Linkin Park
Phát hành 20 tháng sáu thời điểm năm 2012
Thu âm Tháng ba năm 2011 – Tháng bốn thời điểm năm 2012
Phòng thu NRG Recording Studios
(North Hollywood, California)
Thể loại
  • Electronic rock
  • alternative rock
  • rap rock
Thời lượng 36:59
Hãng đĩa
  • Warner Bros.
  • Machine Cửa hàng
Sản xuất
Thứ tự album phòng thu của Linkin Park
A Thousand Suns
(2010)
Living Things
(2012)
The Hunting Party
(2014)
Phiên bản Đĩa than and Lưu diễn Úc
Living Things Vinyl.jpg
Đĩa đơn từ Living Things
  1. “Burn It Down”
    Ban hành: 16 tháng tư thời điểm năm 2012
  2. “Lost in the Echo”
    Ban hành: 19 tháng 10 thời điểm năm 2012
  3. “Powerless”
    Ban hành: 31 tháng 10 thời điểm năm 2012
  4. “Castle of Glass”
    Ban hành: 7 tháng 12 thời điểm năm 2012

Living Things là album phòng thu thứ năm của ban nhạc rock Mỹ Linkin Park. Nó đc ban hành bởi Warner Bros. Records and Machine Cửa hàng vào trong ngày 20 tháng sáu thời điểm năm 2012, tại nước Nhật and trên toàn toàn cầu trong tuần tiếp sau. Chế tạo đc tiếp đón bởi giọng ca Mike Shinoda and Rick Rubin, cả 2 đều đồng chế tạo hai album phòng thu trước đây của ban nhạc, Minutes lớn Midnight (2007) and A Thousand Suns (2010). Living Things sẽ là album sau cùng của họ do Rubin chế tạo.

Ban nhạc có phát ngôn rằng Living Things tích hợp những vấn đề từ bốn album phòng thu trước của họ để có thể tạo ra một âm hưởng mới. Họ cho thấy sau cùng họ đã cảm nhận thấy mình đang ở phía trong “vùng thân quen” and “dễ chịu và thoải mái với chính bản thân” sau rất nhiều năm thí điểm, tác dụng là hai album phòng thu trước đây của họ, Minutes lớn Midnight and A Thousand Suns. Living Things đc chọn làm tiêu đề của album vì có không ít chủ đề cá thể trong album.

Đĩa đơn chính của album, “Burn It Down”, đc gửi đến đài phát thanh and ban hành cho những công ty bán lẻ nhạc số vào trong ngày 16 tháng tư thời điểm năm 2012. Living Things cầm đầu bảng xếp thứ hạng Billboard 200 với lợi nhuận 223.000 bản tại Đất nước Hoa Kỳ trong tuần lễ reviews. Đĩa đơn thứ 2 cho album, “Lost in the Echo”, đc ban hành vào trong ngày 19 tháng 10 thời điểm năm 2012. Đĩa đơn thứ ba “Powerless” đc ban hành vào trong ngày 31 tháng 10 thời điểm năm 2012. Đĩa đơn thứ tư and cũng là đĩa đơn sau cùng của album, “Castle of Glass”, đc ban hành dạng vật lý vào trong ngày 1 tháng hai năm trước đó. Album đã đc ghi nhận Bạch kim bởi RIAA trong thời điểm tháng 8 năm 2017.

Yếu tố hoàn cảnh and thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến độ thu âm của Living Things bước đầu trong thời điểm tháng 3 năm 2011 and kết thúc trong thời điểm tháng 4 thời điểm năm 2012.[1] Trong thời điểm tháng 6 năm 2011, ca sĩ chính Chester Bennington đã tiết lộ với Kerrang! rằng Linkin Park đã bước đầu tạo nên loại sản phẩm mới cho album thứ năm của họ. Ông phân tích và lý giải, “Chúng mình đã bước đầu thao tác để có thể tạo ra một đĩa nhạc mới hai tháng qua. Âm nhạc thật tuyệt and chúng tôi đang di chuyển trước dự định. Không có không ít bài ồn ào, nhưng có nhiều bài hát hay.” [2]

Giọng ca chính kiêm rapper của ban nhạc, Mike Shinoda, and Rick Rubin biến thành đơn vị phân phối cho album. “Đôi khi, chúng tôi sẽ sở hữu được một buổi họp mỗi tuần để nghe các bài hát họ đang tâm lý and nói về chúng. Trong quy trình tiến độ đầu của Dự Án BĐS, họ đã tiến xa hơn hẳn nếu như với hai album trước của chúng tôi. Trong A Thousand Suns vẫn tồn tại không ít điểm không được tôi luyện hoàn hảo. Chúng tôi biết vấn đề này, ‘Đc rồi, chúng tôi đã không còn gì làm mãi một việc. Hãy để lô đó lại and chúng tôi sẽ trở về and xử lý nó sau khoản thời gian chúng tôi bước đầu lại ” , Rubin nói.[3] Bennington phân tích và lý giải rằng Rubin “cho chúng tôi khoảng không để là chính bản thân and tự thao tác… Anh ấy đưa cho chúng tôi một diễn tả chi tiết and ngắn gọn về các thứ anh ấy thích… Anh ấy muốn chúng tôi tạo động lực thúc đẩy bản thân tiếp đón một phương pháp mới mẻ hơn về thứ âm hưởng cụ thể chi tiết đó.” [4] Ông cũng bảo rằng Shinoda chỉ dẫn ban nhạc trong giai đoạn thi công từng bài hát, and gọi sự hợp tác và ký kết của Shinoda and Rubin là “tấm vé vàng của chúng tôi.”

Trong thời điểm tháng 7 năm 2011, Bennington nói với Rolling Stone rằng Linkin Park đặt phương châm chế tạo một album mới sau mỗi mười tám tháng, and ông sẽ tương đối kinh ngạc nếu một album mới chưa được ra mắt vào thời điểm năm 2012. Ban nhạc thường xuyên thu âm and chế tạo loại sản phẩm mới ngay cả những lúc đang lưu diễn. Bennington Review về lịch trình của Linkin Park, bảo rằng, “Lưu diễn trong 2 năm là không ít. Khi chúng tôi lưu diễn trong 2 năm, ngay toàn bộ cơ thể bản lĩnh nhất trong ban nhạc, vào thời gian cuối thời điểm lúc đó, đã rất kiệt quệ.” [5] Ông nói rõ thêm về sáng tạo độc đáo của họ trong 1 cuộc vấn đáp với 1 Thành Viên rằng, “Chúng tôi đã có rất nhiều một bắt đầu sự thật tuyệt vời và hoàn hảo nhất. Chúng tôi có một vài bản nhạc tuyệt vời và hoàn hảo nhất, một vài sáng tạo độc đáo hay. Sự trí tuệ sáng tạo đã liên tiếp tuôn chảy trong chúng tôi trong một số năm qua.” [6] Tiếp nối, ông tiết lộ trong 1 cuộc vấn đáp khác trong thời điểm tháng 9 năm 2011 rằng ban nhạc vẫn đã và đang trong quy trình tiến độ đầu của album tiếp sau, bảo rằng “Chúng mình chỉ mới bước đầu. Chúng tôi muốn giữ cho nguồn cảm xúc trí tuệ sáng tạo luôn chảy, chính vì như thế chúng tôi nỗ lực cố gắng bảo trì vấn đề này mọi lúc… chúng tôi thích hướng đi mà chúng tôi đang di chuyển.” [7] Shinoda nói với Complex rằng họ đã chiếm hữu 1 năm để triển khai album, tương tự như trau chuốt âm nhạc của album, bảo rằng “Nó không làm mất đi đi sự trí tuệ sáng tạo của các thứ mới hơn and nó còn đem lại nguồn năng lượng của các thứ cũ hơn. đồ đạc và vật dụng. Đó kiểu như là một loại âm hưởng tổng thể và toàn diện. Tôi cảm nhận thấy như chúng mình đã có khả năng lấy tổng thể các gì chúng mình đã học đc từ trước đến giờ and tích hợp tổng thể lại cùng nhau trong những bài hát and vẫn giữ cho nó luôn mới mẻ and có tư duy hướng về mai sau.”

Shinoda đã truyện trò với Co.Create về thẩm mỹ của album, bảo rằng nó sẽ bị “thổi bay [người hâm mộ] đi… một người thông thường sẽ đã không còn gì nhìn vào nó and gật đầu đồng ý, tôi hiểu rõ rằng nó trọn vẹn mới, không những về hình ảnh mà cả phương pháp hình ảnh đc tạo nên cũng trọn vẹn mới.” [8] Ban nhạc đã thông qua giai đoạn quét body 360 độ cho nhiều đoạn phim lời bài hát and ảnh bìa cho album.[9] Tấm hình của album đc ban hành vào trong ngày 16 tháng tư thời điểm năm 2012, cùng theo với đĩa đơn thứ nhất của album, “Burn It Down”.[10]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 1 cuộc vấn đáp đc đăng trên tạp chí Kerrang! ngày 21 tháng ba thời điểm năm 2012, Bennington có phát ngôn rằng ban nhạc đã trở về vùng ‘thân quen’ hơn trong đĩa nhạc mới của họ, bảo rằng “với album [mới] này, chúng mình đã tích hợp không ít nhạc guitar với các đoạn điệp khúc dài and content điện tử nặng hơn để đem lại cảm xúc của một bờ tường âm lượng sự thật to mà hoàn toàn không thiên về chuyên mục metal nhiều quá. Điều đó sẽ làm mỗi người cảm nhận thấy thân quen hơn nếu như với A Thousand Suns.” Bennington cũng bảo rằng lời bài hát của album mới sẽ mang tính chất cá thể và né tránh mang tính chất chính trị, thêm vào đây “Chúng mình đã viết không ít ca từ về những quan hệ.” Bennington and Shinoda tái diễn các có phát ngôn cũng tương tự trong 1 cuộc vấn đáp với Spin, với Shinoda bảo rằng “Bây giờ chúng tôi biết rằng chúng tôi có những kiến thức và kỹ năng and công cụ để cầm lấy các sáng tạo độc đáo đó and biến chúng thành các gì chúng tôi sự thật đang search, thay thế vì dấn sâu vào nó and tìm hiểu ra rằng nó sự thật chỉ nghe giống nhạc nü-metal. Chúng tôi sẽ luôn cảm nhận thấy tức giận với chuyên mục nhạc đó, nhưng chúng tôi có khả năng lấy những vấn đề đó and cải tạo lại cảm hứng, tạo nên nó mới mẻ.” Cả 2 đã cho xem trước năm bài hát trong album, tương tự như thông tin rằng họ đã hợp tác và ký kết với nhạc sĩ người Canada Owen Pallett. Những ca sĩ cũng bảo rằng họ đã mang vào nhiều tác động and chủ đề cho album, đặc thù là về con người.

Bennington nói với Live 105 rằng ban nhạc đang “đảm nhận mọi thứ mà [họ] đã có lúc từng tạo sự trong quá khứ,” lấy các “sản phẩm thực tế hay nhất” trong bốn album trước của họ and “ghép nó vào đĩa nhạc mới này.” [4] Shinoda phân tích và lý giải trong 1 cuộc vấn đáp với NME rằng album sẽ không còn trở về với âm hưởng nu metal của họ, mặc dù vậy ông đảm bảo an toàn rằng đĩa nhạc sẽ “trở về nguồn gốc xuất xứ của chúng tôi and nó lưu lại các cảm hứng mà chúng tôi không thể cảm nhận thấy sau rất nhiều năm.” Ông cũng phát biểu cũng tương tự với Bennington về việc tích hợp những vấn đề của cả bốn album, bảo rằng, “Chúng mình đã học đc không ít điều từ tổng thể những album mà chúng mình đã thi công, chính vì như thế chúng mình đã lấy tổng thể các gì chúng mình đã học and phối tổng thể thành một.” Shinoda bảo rằng album này “tập trung chuyên sâu vào rap” hơn nếu như với hai album trước của họ. Shinoda nói với Musique Mag rằng ban nhạc muốn album “có không ít nguồn năng lượng hơn [và] lệ thuộc vào giai điệu hơn”, trái ngược với album trước của họ, A Thousand Suns, nó giống một đĩa nhạc sáng tạo độc đáo hơn.[11]

Ban nhạc đã nhận được nhiều tác động and cảm xúc cho Living Things . Shinoda nói với Rolling Stone rằng “Castle of Glass”, “Skin lớn Bone” and “Roads Untraveled” ẩn chứa các âm nhạc dân gian chịu ràng buộc từ những sản phẩm thực tế của Bob Dylan, tương tự như các cảm xúc của Dylan. Trong ca khúc thứ bảy “Victimized”, đc Rolling Stone diễn tả là “ca khúc hung ác nhất của ban nhạc trong tương đối nhiều năm”, bị tác động bởi những ban nhạc punk rock như Pennywise and Dirty Rotten Imbeciles.[11] Shinoda đề cập rằng content ít nhất của nhiều bài hát punk rock đã tác động đến độ ngắn của “Victimized”. Y như hai album thứ nhất của ban nhạc, ca khúc áp chót (“Tinfoil”) là một bài nhạc cụ.[12] Brad Delson, tay guitar của ban nhạc, góp giọng hát trong ca khúc thứ mười “Until It Breaks”, đó là sáng tạo độc đáo của Delson. Album tìm hiểu những chuyên mục alternative rock, electronic rock and rap rock.[13][14]

Ban hành and tiếp thị[sửa | sửa mã nguồn]

250px Incubus 2012

Linkin Park đã bắt tay với ban nhạc rock Mỹ Incubus (ảnh) and Mutemath trong 2012 Honda Civic Tour.

Ban nhạc đã từng đi lưu diễn với Incubus and Mutemath trong Honda Civic Tour 2012.[15] Buổi trình diễn của ban nhạc tại Nhà hát Admiralspalast ở Berlin, Đức đã đc thu âm and chiếu tại rạp vào trong ngày 25 tháng sáu thời điểm năm 2012 chỉ trong 1 đêm.[16] Ban nhạc đã thi công một trong những buổi hòa nhạc riêng tại Thế vận hội X 2012 ở Los Angeles.[17] Vào trong ngày 23 tháng bảy thời điểm năm 2012, Linkin Park thông tin họ sẽ lưu diễn tại Nam Phi lần thứ nhất, trình diễn tại Johannesburg and Cape Town trong thời điểm tháng 11 thời điểm năm 2012.[18]

Vào trong ngày 28 tháng ba thời điểm năm 2012, Shinoda xác thực rằng đĩa đơn thứ nhất của album là ” Burn It Down “.[19] Vào trong ngày 11 tháng tư thời điểm năm 2012, nó đc xác thực rằng nó sẽ tiến hành gửi để phát sóng trên radio and ban hành bản tải xuống kỹ thuật số iTunes vào trong ngày 16 tháng tư thời điểm năm 2012.[10] Shinoda cũng xác thực rằng họ đang quay một đoạn phim âm nhạc cho bài hát,[20] với những người xoay đĩa của ban nhạc là Joe Hahn đạo diễn đoạn phim.[21] Ban nhạc đã hợp tác và ký kết với đội Lotus F1 để có thể tạo ra một phần mềm iPad đua âm nhạc mang tên Linkin Park GP, Vị trí người chơi lái một cái Lotus E20 and tương tác với thiên nhiên và môi trường được cho phép người chơi tạo nên một bản phối lại của “Burn It Down”.[22] Video clip âm nhạc cho “Burn It Down” reviews trên 1 Thành Viên vào trong ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012.[23]

Vào trong ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012, Mike Shinoda đã update trên blog xác thực rằng tên album mới là Living Things and album sẽ sở hữu được sẵn để mua hàng trước trải qua website của họ, xuất phát điểm từ ngày 16 tháng tư.[24]Living Things đc ban hành vào trong ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.[25] Oder trước cho album bước đầu vào trong ngày 17 tháng tư thời điểm năm 2012; lúc mua, fan hâm mộ sẽ tiến hành ĐK Living Things Remix, các bài hát đc phối lại từ album.[26] Để ăn mừng việc ban hành Living Things, ban nhạc đã hợp tác và ký kết với website phát nhạc online Spotify để ban hành những bản tổ hợp thẳng trực tiếp của từng thời buổi album.[27][28]

Vào trong ngày 9 tháng năm thời điểm năm 2012, một cuộc chơi săn tìm rác thải (scavenger hunt) tương tác trên toàn toàn cầu đã bước đầu.[29] Shinoda có phát ngôn khi sắp kết thúc cuộc chơi vào trong ngày 23 tháng năm thời điểm năm 2012, rằng ông sẽ gọi cho DJ Zane Lowe của Đài truyền hình BBC Radio 1 vào trong ngày hôm sau để trình chiếu một bài hát mới từ Living Things, cũng là tác dụng sau cùng của cuộc chơi.[30] Bài hát reviews lần đầu trên Đài truyền hình BBC Radio 1 vào trong ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012 là bài hát thứ tư của album, “Lies Greed Misery”.[31]

Vào trong ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012, đoạn phim lời bài hát chính thức của “Lies Greed Misery” đc trình chiếu.[32] Cùng trong ngày, “Lies Greed Misery” đc trình làng trong khúc trình làng cuộc chơi điện tử Medal of Honor: Warfighter, đc Electronic Arts tiết lộ tại E3 2012.[33][34] “Castle of Glass” cũng được xác thực sẽ mở ra trong Medal of Honor: Warfighter.[35] “Powerless”, ca khúc thứ mười hai and là ca khúc sau cùng của album, đc góp mặt trong phần kết của bộ phim truyện Abraham Lincoln: Vampire Hunter. Một đoạn phim ca nhạc trình diễn của “Powerless” có những cảnh trong phim đã đc ban hành trên Yahoo! .[36] MV do Timur Bekmambetov, đạo diễn của Abraham Lincoln: Vampire Hunter thi công.[37] Video clip lời chính thức cho “Lost in the Echo” đc ban hành trên trang YouTube chính thức của Linkin Park vào trong ngày 29 tháng sáu thời điểm năm 2012.[38] and đoạn phim âm nhạc chính thức đc ban hành vào trong ngày 4 tháng chín thời điểm năm 2012.[39] Vào trong ngày 5 tháng 10 thời điểm năm 2012, “Lost in the Echo” đc ban hành làm đĩa đơn thứ 2 của album.[40] Vào trong ngày 10 tháng 10 thời điểm năm 2012, Linkin Park đã ban hành đoạn phim âm nhạc cho “Castle of Glass”.[41] Vào trong ngày 31 tháng 10 thời điểm năm 2012, “Powerless” đc ban hành bên dưới dạng đĩa đơn duy nhất trên iTunes tại nước Nhật, mặc dầu chưa tồn tại có phát ngôn chính thức nào về việc “Powerless” là đĩa đơn tương tự như không tồn tại bất kể tiếp thị nào về ngày ban hành.[42] “I’ll Be Gone” đc phát sóng trên đài phát thanh alternative làm đĩa đơn quảng cáo vào trong ngày 5 tháng 12 thời điểm năm 2012,[43] trong những lúc “Castle of Glass” đc ban hành làm đĩa đơn thứ ba của album vào trong ngày 1 tháng hai năm trước đó [44] and cập cảng đài phát thanh Đất nước Hoa Kỳ vào trong ngày 5 tháng một năm trước đó.[45]

Đảm nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Living Things reviews ở phần số một trên Billboard 200, bán tốt 223.000 bản, vượt qua Overexposed của Maroon 5 với cùng một.000 bản, theo Nielsen SoundScan, and rơi xuống vị trí đặt thứ 5 trong tuần thứ 2 ở trên bảng xếp thứ hạng khi bán tốt 64.000 bản. Album đã đoạt vị trí đặt thứ nhất tại mười bảy non sông, biến thành album xếp thứ hạng rất tốt nhất của họ cho tới thời đặc điểm đó và được ghi nhận Vàng ở Úc cho lên đơn ít nhất 35.000 bản,[46] and cũng đạt ghi nhận Vàng ở Thụy Sĩ.[47] Nó cũng reviews ở phần số một trên UK Albums Chart, bán tốt 41.000 bản vượt qua album của Maroon 5 một đợt nữa. Tại Canada, album cũng cầm đầu với con số lượng xuất kho ít nhất 20.000 bản.[48] Tính đến năm 2014, album đã bán tốt 681.000 bản tại Đất nước Hoa Kỳ.[49]

Giới phê bình đảm nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ban hành, album đã vấp phải nhiều đánh giá và nhận định trái lập từ những nhà phê bình. Theo website tổ hợp đánh giá và nhận định Metacritic, Living Things giữ số điểm 60 trên 100 dựa vào 15 bài đánh giá và nhận định đc tích lũy, cho tác dụng “đánh giá và nhận định trái lập đến bình quân.” [50]

Chad Childers của Loudwire bảo rằng “tổng thể album thường xuyên giải phóng và mở rộng toàn cầu quan của họ tương tự các gì người nghe thấy đc với A Thousand Suns, nhưng nó cũng rất được ngày càng tăng sự giận dữ đã có lúc từng thông dụng trong sản phẩm thực tế thứ nhất của họ, Hybrid Theory.[55] Stephen Thomas Erlewine từ AllMusic đã nhận định rằng “cấu tạo của nó đc định nghĩa, một vài đoạn điệp khúc có khả năng cuốn hút bạn mà hoàn toàn không cần vô số cố gắng nỗ lực – nhưng cả album này là một cảm hứng kéo dãn dài, không hẳn chỉ có vài khoảnh khắc riêng biệt” and Kết luận rằng album là “một đĩa nhạc phim hợp lí dành riêng cho những rap-rocker già cỗi, những người dân dễ chịu và thoải mái bên phía ngoài nhưng trong tim lại hoảng sợ”.[51] Nhà văn Dave Simpson của The Guardian Review rằng “Living Things mang tính chất cá thể hơn là A Thousand Suns, với chủ đề chính là phục sinh sau các thưởng thức đau thương. Ngoại lệ là, Burn It Down, mang lại cảm hứng phản chiến qua kiểu nhạc electro-bounce của Depeche Mode, trong những lúc Roads Untraveled cũng tính chất như là một bản ballad thú tội kỳ lạ”, and Kết luận rằng “Living Things đáng lẽ phải thu về nhiều hơn thế từ cuộc phiêu lưu như thế, nhưng họ vẫn tương tự một ban nhạc đang tận thừa hưởng 1 thời cơ thứ 2 trong đời bất ngờ đột ngột”. Johan Wippsson của Melodic đã viết rằng album này “hơi thiên về pop và đã được tạo nên với chủ kiến lên bảng xếp thứ hạng nhiều hơn thế trước. Phần synthesizer hơi quá với ý đồ bắt chước Coldplay, nhưng chắc hẳn rằng ban nhạc cảm nhận thấy đang đi tới lúc chinh phục những bảng xếp thứ hạng một đợt nữa.” Jordan Blum của PopMatters Kết luận rằng “Living Things là một sản phẩm thực tế cực tốt, đơn giản dễ dàng là nó không thực sự đặc thù như tiền thân của nó.” Phil Mongredien từ The Observer phản hồi về việc họ không gật đầu đồng ý sự cẩn trọng and khen ngợi sự táo bạo của họ.[57]

Tim Grierson tại About.com nhận định rằng Living Things là “một bộ sưu tầm chi tiết dấu hiệu thế mạnh rap-rock của họ và ăn mặc dù nó thường lôi cuốn về mặt âm nhạc, nhưng 12 bài hát này không tồn tại đủ tác động ảnh hưởng về dài lâu. Công dụng là, đĩa nhạc sau cùng biến thành một thưởng thức chuyển hướng chứ không hẳn là lưu giữ.” [14] Tại The AV Club, Evan Rytlewski Review rằng ban nhạc “có khả năng hạn chế (hoặc sa thải) tổng thể các âm hưởng nặng nề, tuyển dụng các đơn vị phân phối với kinh nghiệm tay nghề chinh phục Grammy, and bắt kịp thời buổi với các âm hưởng electronic mới nhất, nhưng các nước đi đó chỉ có khả năng cứu Linkin Park phần nào khi tổng thể những bài hát của họ chỉ có các cung bậc cảm hứng của một trận đấu MMA”.[52] Một đánh giá và nhận định trái lập khác từ Hamish MacBain tại NME bảo rằng “… sự thâm nhập của họ vào chuyên mục đc họ đề cập ở chỗ này bị số lượng giới hạn chỉ trong ba phút của ‘Castle of Glass’. Phần sót lại là… nói sao nhỉ, công bình mà nói, họ chi tiết đã nghe một ít Skrillex, and vì vậy, tiếng guitar nặng nề của xa xưa đã đc sửa chữa bằng một âm hưởng điện tử nặng nề mới…”

List bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ lời bài hát đc viết bởi Chester Bennington and Mike Shinoda; tổng thể nhạc phẩm đc soạn bởi Linkin Park.

1. “Lost in the Echo” 3:25
2. “In My Remains” 3:20
3. “Burn It Down” 3:51
4. “Lies Greed Misery” 2:27
5. “I’ll Be Gone” 3:31
6. “Castle of Glass” 3:25
7. “Victimized” 1:46
8. “Roads Untraveled” 3:49
9. “Skin lớn Bone” 2:48
10. “Until It Breaks” 3:43
11. “Tinfoil” (Instrumental) 1:11
12. “Powerless” 3:43
Tổng thời lượng: 36:59
13. “What I’ve Done” (live) 4:07
Tổng thời lượng: 41:12
1. “In the End” (live) 3:41
2. “New Divide” (live) 4:30
3. “What I’ve Done” (live) 4:06
4. “Lost in the Echo” (KillSonik Remix) 5:11
5. “Burn It Down” (live Rock im Park 2012) 4:02
6. “Lies Greed Misery” (live Rock im Park 2012) 2:31
1. “Tinfoil” 1:49
2. “Faint” 3:50
3. “Papercut” 3:17
4. “With You” 3:37
5. “Given Up” 3:49
6. “Blackout” 4:45
7. “Somewhere I Belong” 4:48
8. “New Divide” 5:02
9. “Lies Greed Misery” 2:31
10. “Waiting for the End” 5:27
11. “Breaking the Habit” 3:19
12. “Leave Out All the Rest/Shadow of the Day/Iridescent” 5:46
13. “What I’ve Done” 3:29
14. “One Step Closer” 4:26
15. “Burn It Down” 3:55
16. “In the End” 3:41
17. “Numb” 3:07
18. “Bleed It Out/Sabotage (Cover Beastie Boys)” 5:21
1. “Burn It Down” (RAC Remix) 3:38
2. “Burn It Down” (Paul van Dyk Remix) 8:00
3. “Burn It Down” (Swoon Remix) 4:51
4. “Until It Breaks” (Datsik Remix) 6:04
5. “Roads Untraveled” (Rad Omen Remix Bun B góp mặt) 5:32
6. “Burn It Down” (Bobina Remix) 5:22
7. “Until It Breaks” (Money Mark Remix) 4:36
8. “Powerless” (Enferno Remix) 6:20

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: AllMusic [62] and tập sách Living Things .

Bảng xếp thứ hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Những bài hát đc xếp thứ hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân tộc ban hành[sửa | sửa mã nguồn]

Xung quanh vị trí Ngày Hãng đĩa Định dạng Hạng mục số
nước Nhật[60] 20 tháng sáu thời điểm năm 2012 Warner Bros. CD WPCR-14496
Nga[147] 21 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD 4690355004127
Ukraina CD
Belarus CD
Kazakhstan CD
nước Australia[148] 22 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD, kỹ thuật số 9362495048
Áo[149] CD, kỹ thuật số 9362495048
Bỉ[150] CD, kỹ thuật số 9362495048
Croatia CD, kỹ thuật số 9362495048
Đức[151] CD, kỹ thuật số 9362495048
Hy Lạp CD, kỹ thuật số 9362495048
Ấn Độ CD 9362495048
Hòn đảo Ireland[152] CD, kỹ thuật số 9362495048
Ý[153] CD, kỹ thuật số 9362495048
Hà Lan[154] CD, kỹ thuật số 9362495048
New Zealand[155] CD, kỹ thuật số 9362495048
Na Uy[156] CD, kỹ thuật số 9362495048
Nước Singapore[157] CD 495048TS
Slovakia 9362495048
Thụy Sĩ[158] CD, kỹ thuật số 9362495048
Malaysia 24 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD, kỹ thuật số 9362495048
Đan Mạch[159] 25 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD, kỹ thuật số 9362495048
Pháp[160] CD, kỹ thuật số 9362495048
Ba Lan[161] CD, kỹ thuật số 9362495048
Bồ Đào Nha[162] CD, kỹ thuật số 9362495048
Quốc gia Liên hiệp Anh and Bắc Ireland CD, kỹ thuật số 9362495007
Brasil[163] 26 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD, kỹ thuật số
Canada[164] CD, kỹ thuật số 9362495048
Chile CD 9362495048
México[165] CD, kỹ thuật số 93624950486
Thổ Nhĩ Kỳ[166] CD, kỹ thuật số 9362495048
Đất nước Hoa Kỳ[25] CD, kỹ thuật số 9362495048
Argentina 27 tháng sáu thời điểm năm 2012 CD
Phần Lan[167] CD, kỹ thuật số 9362495048
Israel[168] 4 tháng bảy thời điểm năm 2012 CD 9362495048

Living Things (Acapellas và Instrumentals)[sửa | sửa mã nguồn]

Living Things (Acapellas và Instrumentals)
LT Acapellla and Instrumental.jpg
Album phòng thu của Linkin Park
Phát hành 25 tháng sáu, 2012 (2012-06-25)
Thu âm Tháng ba năm 2011–Tháng bốn thời điểm năm 2012 tại
NRG Recording Studios
(North Hollywood, California)
Thể loại
  • Alternative rock
  • electronic rock
  • a cappella
Thời lượng 1:08:12
Hãng đĩa
  • Warner Bros.
  • Machine Cửa hàng
Sản xuất

Living Things (Acapellas và Instrumentals) là album nhạc cụ and a capella thứ nhất đc thi công bởi ban nhạc rock Mỹ Linkin Park, trích từ album phòng thu thứ năm Living Things . Album đc ban hành trên iTunes, và đã được ban hành trải qua Warner Bros. and Machine Cửa hàng vào trong ngày 25 tháng sáu thời điểm năm 2012, nó đc chế tạo bởi Rick Rubin and Mike Shinoda. Album đó được ban hành trước lúc ban hành Living Things vào trong ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012. Album đc Linkin Park ban hành sau khoản thời gian Shinoda nghe tổng thể những bản phối lại những bài hát của họ bởi những đơn vị phân phối khác and nó đã đc xác thực trên website chính thức của họ.

List bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

1. “Lost in the Echo” (Instrumental) 3:25
2. “In My Remains” (Instrumental) 3:20
3. “Burn It Down” (Instrumental) 3:50
4. “Lies Greed Misery” (Instrumental) 2:26
5. “I’ll Be Gone” (Instrumental) 3:32
6. “Castle of Glass” (Instrumental) 3:25
7. “Victimized” (Instrumental) 1:48
8. “Roads Untraveled” (Instrumental) 3:50
9. “Skin lớn Bone” (Instrumental) 2:48
10. “Until It Breaks” (Instrumental) 3:55
11. “Tinfoil / Powerless” (Instrumental) 5:03
12. “Lost in the Echo” (A cappella) 2:56
13. “In My Remains” (A cappella) 2:43
14. “Burn It Down” (A cappella) 2:56
15. “Lies Greed Misery” (A cappella) 2:14
16. “I’ll Be Gone” (A cappella) 2:59
17. “Castle of Glass” (A cappella) 2:49
18. “Victimized” (A cappella) 1:14
19. “Roads Untraveled” (A cappella) 3:11
20. “Skin lớn Bone” (A cappella) 2:37
21. “Until It Breaks” (A cappella) 3:43
22. “Powerless” (A cappella) 3:26
Tổng thời lượng: 1:08:12

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Inside Living Things”. Mike Shinoda Clan. Bản gốc tàng trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy vấn ngày 14 tháng năm năm 2014.

  2. ^ “Linkin Park: ‘Our next album will polarize people”. ngày 15 tháng sáu năm 2011. Truy vấn ngày 16 tháng sáu năm 2011.
  3. ^ “Rick Rubin on New Chili Peppers & Metallica Albums, Why Adele’s Hot Streak Is ‘Just Beginning”. ngày 20 tháng sáu năm 2011. Truy vấn ngày 21 tháng sáu năm 2011.
  4. ^ aăMiles the DJ (ngày 12 tháng tư thời điểm năm 2012). “Audio: Linkin Park Tells Us About Their New Music; LIVE 105 Lớn World Premiere The New Single On Monday, April 16th”. Live 105. Bản gốc tàng trữ ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 12 tháng tư thời điểm năm 2012.
  5. ^ “Linkin Park Planning Album for Early Next Year”. ngày 26 tháng bảy năm 2011. Truy vấn ngày 27 tháng bảy năm 2011.
  6. ^ Montgomery, James (ngày 24 tháng sáu năm 2011). “Linkin Park Talk Next Album From Moscow’s Red Square”. 1 Thành Viên.com. 1 Thành Viên. Truy vấn ngày 20 tháng 12 năm 2011.
  7. ^ Montgomery, James (ngày 2 tháng chín năm 2011). “Linkin Park ‘Getting The Wheels Rolling’ On Next Album”. 1 Thành Viên.com. 1 Thành Viên. Truy vấn ngày 20 tháng 12 năm 2011.
  8. ^ Karpel, Ari (ngày 2 tháng tư thời điểm năm 2012). “Linkin Park’s Mike Shinoda On Scoring “The Raid: Redemption,” Và How it Will Shape the Band’s next album”. Co.Create. Truy vấn ngày 2 tháng tư thời điểm năm 2012.
  9. ^ Childers, Chad (ngày 11 tháng năm thời điểm năm 2012). “Linkin Park Get Full 360 Degree Toàn thân Scans for ‘Burn It Down’ Video clip”. Loudwire. Townsquare Truyền thông media. Truy vấn ngày 2 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  10. ^ aăPark “16.04.: Neue Single, Album-Artwork”. Warner Music Germany. Warner Bros. Records. ngày 11 tháng tư thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 11 tháng tư thời điểm năm 2012.
  11. ^ aă“Linkin Park: interview Living Things avec Mike et Phoenix”. Musique Mag. ngày 15 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 16 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  12. ^ Florino, Rick (ngày 12 tháng năm thời điểm năm 2012). “Rick Florino tweet”. Twitter. Truy vấn ngày 17 tháng năm thời điểm năm 2012.
  13. ^ “Reviews: Linkin Park – LIVING THINGS”. MusicReview. Bản gốc tàng trữ ngày 12 tháng bảy năm 2015. Truy vấn ngày 20 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  14. ^ aăâGrierson, Tim (ngày 24 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park – ‘Living Things’ Reviews”. About.com. Truy vấn ngày 24 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  15. ^ “Linkin Park và Incubus – Honda Civic Tour”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 19 tháng tư thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012.
  16. ^ Ruehmer, Adam (ngày 7 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park One Night Concert Sự kiện Trailer”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 4 tháng một năm trước đó. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  17. ^ Tunney, Brian (ngày 8 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park lớn play X Games LA”. ESPN. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  18. ^ “Shows in South Africa”. Bản gốc tàng trữ ngày 23 tháng bảy thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 24 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  19. ^ Shinoda, Mike (ngày 28 tháng ba thời điểm năm 2012). “Mike Shinoda tweet”. Twitter. Truy vấn ngày 29 tháng ba thời điểm năm 2012.
  20. ^ “Video clip at Viddy.com: Mike Shinoda announces New Single “Burn It Down”. Bản gốc tàng trữ ngày 2 tháng tư thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 28 tháng ba thời điểm năm 2012.
  21. ^ Farrell, Dave (ngày 27 tháng ba thời điểm năm 2012). “Dave “Phoenix” Farrell tweet”. Twitter. Truy vấn ngày 25 tháng ba thời điểm năm 2012.
  22. ^ Shinoda, Mike (ngày 21 tháng năm thời điểm năm 2012). “Linkin Park Teams Up With Lotus F1 Lớn Create “Linkin Park GP”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 27 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 21 tháng năm thời điểm năm 2012.
  23. ^ Hahn, Joe (ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012). “BURN IT DOWN” Music Video clip”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 29 tháng một năm trước đó. Truy vấn ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012.
  24. ^ Shinoda, Mike (ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012). “Monday News: Burn It Down, Release Dates, The Album, và a Toolbox”. Mikeshinoda.com. Bản gốc tàng trữ ngày 18 tháng chín thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012.
  25. ^ aă“LINKIN PARK – LIVING THINGS Teaser”. YouTube. ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 15 tháng tư thời điểm năm 2012.
  26. ^ “Linkin Park – Living Things Pre-Order”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 14 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 15 tháng năm thời điểm năm 2012.
  27. ^ Ruehmer, Adam (ngày 31 tháng năm thời điểm năm 2012). “Linkin Park: Live Around The World”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  28. ^ “Linkin Park – Spotify – Live Collections”. Spotify. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 2 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  29. ^ Shinoda, Mike (ngày 14 tháng năm thời điểm năm 2012). “The Story of The Linkin Park Scavenger Hunt So Far”. Mikeshinoda.com. Bản gốc tàng trữ ngày 17 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 15 tháng năm thời điểm năm 2012.
  30. ^ Shinoda, Mike (ngày 23 tháng năm thời điểm năm 2012). “Almost There: Final Steps of the #LinkinParkScavengerHunt”. Mikeshinoda.com. Bản gốc tàng trữ ngày 27 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012.
  31. ^ Lowe, Zane (ngày 24 tháng năm thời điểm năm 2012). “Hottest Record – Linkin Park – Lies Greed Misery”. Đài truyền hình BBC. Truy vấn ngày 17 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  32. ^ Ruehmer, Adam (ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012). “LIES GREED MISERY” Official Lyric Video clip”. Linkinpark.com. Bản gốc tàng trữ ngày 8 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  33. ^ “Check out the new Medal of Honor Warfighter trailer featuring “LIES GREED MISERY. Twitter. 4 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  34. ^ “Linkin Park Medal of Honor Warfighter Trailer – E3 2012 Multiplayer game Play”. YouTube. 4 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 4 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  35. ^ Medal Of Honor” Trailer: Video clip”. Warner Music Germany. Warner Music Group. ngày 8 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 14 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  36. ^ “Linkin Park & Abraham Lincoln: Vampire Hunter Exclusive”. Yahoo!. ngày 16 tháng sáu thời điểm năm 2012. Bản gốc tàng trữ ngày 19 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 16 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  37. ^ “Linkin Park tuy nhiên featured in end credits of ‘Abraham Lincoln: Vampire Hunter”. The Philippine Star. PhilStar Daily. ngày 24 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 13 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  38. ^ “Linkin Park – LOST IN THE ECHO”. YouTube. ngày 29 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  39. ^ “Linkin Park – LOST IN THE ECHO (Official Music Video clip)”. YouTube. ngày 4 tháng chín thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 7 tháng 10 thời điểm năm 2012.
  40. ^ “Lost In the Echo – Single”. iTunes. ngày 5 tháng 10 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 8 tháng 10 thời điểm năm 2012.
  41. ^ “Linkin Park – CASTLE OF GLASS (FEATURED IN MEDAL OF HONOR WARFIGHTER)”. YouTube. Linkin Park. 10 tháng 10 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 10 tháng 10 thời điểm năm 2012.
  42. ^ “Powerless – Single”. iTunes Nhật Bản. Apple, inc. Truy vấn ngày 3 tháng 11 thời điểm năm 2012.
  43. ^ “New Music From Linkin Park, “I’ll Be Gone,” Added Lớn The KROQ Playlist”. KROQ-FM. CBS Radio. ngày 5 tháng 12 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 28 tháng một năm trước đó.
  44. ^ “LINKIN PARK TO RELEASE NEW SINGLE ‘CASTLE OF GLASS. Truy vấn ngày 30 tháng 10 thời điểm năm 2012.
  45. ^ “Newest From Linkin Park Và Paramore “Now” On The KROQ Playlist”. KROQ-FM. CBS Radio. ngày 30 tháng một năm trước đó. Truy vấn ngày 28 tháng một năm trước đó.
  46. ^ “ARIA Top 50 Album Chart”. ARIA. Bản gốc tàng trữ ngày 18 tháng năm năm 2011. Truy vấn ngày 2 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  47. ^ “Official Swiss Music Charts”. Swiss Charts. Truy vấn ngày một tháng chín thời điểm năm 2012.
  48. ^ “Linkin Park- Jam Canoe”. Jam Canoe. Truy vấn ngày 5 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  49. ^ Trust, Gary (ngày 24 tháng sáu năm 2014). “Ask Billboard: With Nico & Vinz, Norway Continues U.S. Chart Invasion”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media.
  50. ^ aă“Living Things”. Metacritic. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  51. ^ aăErlewine, Stephen. “Living Things – Linkin Park”. Allmusic. Truy vấn ngày 27 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  52. ^ aăRytlewski, Evan (ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park: Living Things”. The A.V. Club. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  53. ^ Anderson, Kyle (ngày 22 tháng sáu thời điểm năm 2012). “LIVING THINGS”. Entertainment Weekly. Truy vấn ngày 22 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  54. ^ Simpson, Dave (ngày 21 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park: Living Things – nhận xét”. guardian.co.uk. The Guardian. Truy vấn ngày 22 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  55. ^ aăChilders, Chad (25 tháng sáu thời điểm năm 2012). “LINKIN PARK, ‘LIVING THINGS’ – ALBUM REVIEW”. Loudwire. Truy vấn ngày 25 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  56. ^ MacBain, Hamish (ngày 22 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park – ‘Living Things”. NME. Truy vấn ngày 25 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  57. ^ aăMongredien, Phil (ngày 24 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Linkin Park: Living Things – nhận xét”. guardian.co.uk. The Observer. Truy vấn ngày 24 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  58. ^ Blum, Jordan (ngày 18 tháng bảy thời điểm năm 2012). “Living Things”. Popmatters. Truy vấn ngày 18 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  59. ^ Catucci, Nick (ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012). “Living Things”. Rolling Stone. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  60. ^ aă“Living Things LINKIN PARK [CD]”. CDJapan.co.jp. Retrieved on 23 April 2012.
  61. ^ “Living Things (CD+ DVD)”. WarnerMusic.ch. Truy vấn ngày một tháng ba năm trước đó.
  62. ^ “Living Things – Credits”. Allmusic. Truy vấn ngày 25 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  63. ^ “ARIA Charts”. ARIA Charts. Bản gốc tàng trữ 1 Tháng bốn 2012. Truy vấn ngày một tháng bảy thời điểm năm 2012.
  64. ^ “Longplay Charts Woche 26 / 2012”. http://oe3.orf.at. Bản gốc tàng trữ ngày 10 tháng một thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  65. ^ “Ultratop Belgium (VL): Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy vấn ngày 29 tháng sáu thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  66. ^ “Ultratop Belgium (WA): Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng French). Hung Medien. Truy vấn ngày 29 tháng sáu thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  67. ^ aăâbc“Linkin Park – Living Things”. Billboard. Truy vấn ngày 6 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  68. ^ “Czech Albums Top 50” (bằng tiếng Czech). IFPI. Truy vấn ngày 3 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  69. ^ “Linkin Park – Living Things”. Hung Medien/ danishcharts.dk. Truy vấn ngày 6 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  70. ^ “Dutch Albums Chart” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien / hitparade.ch. Truy vấn ngày 29 tháng sáu thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  71. ^ “Linkin Park: Living Things” (bằng tiếng Finnish). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy vấn ngày 13 tháng tám năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  72. ^ “July 2012”. Bản gốc tàng trữ ngày 8 tháng chín thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 9 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  73. ^ “German Albums Chart” (bằng tiếng German). Truyền thông media Control. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  74. ^ “July 2012”.
  75. ^ “Top 40 album- és válogatáslemez-lista – 2012. 26. hét” (bằng tiếng Hungarian). MAHASZ. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  76. ^ “GFK Chart-Track”. GfK. Chart Track. Bản gốc tàng trữ 28 Tháng sáu 2013. Truy vấn ngày 28 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  77. ^ “Artisti – Classifica settimanale dal 25/06/2012 al 01/07/2012” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Bản gốc tàng trữ ngày 5 tháng 10 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 5 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  78. ^ リヴィング・シングスリンキン・パーク (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy vấn ngày 30 tháng sáu thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  79. ^ “Top 100 Mexico – Los Mas Vendidos – Semana del 25 de Junio al 01 de Julio del 2012” (PDF) (bằng tiếng Spanish). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc (PDF) tàng trữ ngày 12 tháng ba thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 16 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  80. ^ “2012 Top 40 Official NZ Albums”. Bản gốc tàng trữ 14 Tháng năm 2012. Truy vấn ngày 2 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  81. ^ “Norwegian Albums Chart”. Truy vấn ngày 2 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  82. ^ “Oficjalna lista sprzedazy” (bằng tiếng Polish). OLiS. Truy vấn ngày 6 tháng ba năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  83. ^ “Portuguese Albums Chart July 2012”. Bản gốc tàng trữ ngày 9 tháng 12 năm 2015. Truy vấn ngày 9 tháng năm năm 2022.
  84. ^ aăâ“Музыка:триумф нестыдной попсы”. Lenta.ru. ngày 28 tháng 12 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  85. ^ “2012 Top 40 Official Scottish Albums Archive 7th July 2012”. Official Charts Company. Truy vấn ngày 3 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  86. ^ “YouTube podle soudu zodpovídá za obsah, který dodají uživatelé”.
  87. ^ “South African Top 20 Albums Chart”. RSG (Recording Industry of South Africa). Bản gốc tàng trữ ngày 17 tháng tám thời điểm năm 2012.
  88. ^ “Gaon Album Chart”. Bản gốc tàng trữ ngày 22 tháng bảy năm 2011. Truy vấn ngày 5 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  89. ^ “TOP 100 Albumes” (bằng tiếng Spanish). promusicae.es. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  90. ^ “Linkin Park – Living Things”. Swedishcharts.com. Truy vấn ngày 6 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  91. ^ “Linkin Park – Living Things – swisscharts.com”. Hung Medien. Truy vấn ngày 4 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  92. ^ “Western Weekly Top 20, Week 25, 2012” (bằng tiếng Chinese). G-Music.com. Bản gốc tàng trữ ngày 17 tháng 12 năm 2008. Truy vấn ngày 3 tháng bảy thời điểm năm 2012.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  93. ^ “2012 Top 40 Official UK Albums Archive 7th July 2012”. Official Charts Company. Truy vấn ngày 2 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  94. ^ “Official Rock & Metal Albums Chart Top 40”. Official Charts Company.
  95. ^ [{{{url}}} “{{{title}}}”].
  96. ^ “TOP STRANIH – TJEDAN 29. 2017” (bằng tiếng Croatian). www.hdu-toplista.com. Truy vấn ngày 6 tháng tám năm 2017.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  97. ^ “Oficjalna lista sprzedaży :: OLiS – Official Retail Sales Chart”. OLiS. Polish Society of the Phonographic Industry.
  98. ^ “ARIA – Top 100 Albums 2012”.
  99. ^ “Ö3 Austria Top40 – Album Charts 2012”. oe3.ORF.at. Bản gốc tàng trữ ngày 4 tháng một thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  100. ^ aă“Ultratop Belgian Charts”. ultratop.be. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  101. ^ “Top Canadian Albums – 2012 Year End Charts”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media. Truy vấn ngày 16 tháng 12 thời điểm năm 2012.
  102. ^ Steffen Hung. “Dutch charts portal”. dutchcharts.nl. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  103. ^ The first danh sách is the danh sách of best-selling domestic albums of 2012 in Finland và the second is that of the best-selling foreign albums:

    • “Myydyimmät kotimaiset albumit vuonna 2012” (bằng tiếng Finnish). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy vấn ngày 13 tháng tám năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
    • “Myydyimmät ulkomaiset albumit vuonna 2012” (bằng tiếng Finnish). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy vấn ngày 13 tháng tám năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)

  104. ^ “Top de l’année Top Albums 2012” (bằng tiếng Pháp). SNEP. Truy vấn ngày 11 tháng chín năm 2020.
  105. ^ “VIVA Jahrescharts 2012 Album – Alle Musikvideos – Chart”. VIVA.tv. Bản gốc tàng trữ ngày 21 tháng 10 năm trước đó. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  106. ^ “Best selling albums of Hungary in 2012”. Mahasz. Truy vấn ngày 7 tháng hai thời điểm năm 2012.
  107. ^ “Top 100 Album Combined – Classifica annuale (dal 2 Gennaio 2012 al 30 Dicembre 2012)” (PDF) (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry / ti vi Sorrisi e Canzoni. Bản gốc (PDF) tàng trữ ngày 16 tháng một năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  108. ^ “END OF YEAR CHARTS 2012 – new zealand”. nztop40.co.nz.nl. Bản gốc tàng trữ ngày 14 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  109. ^ Steffen Hung (ngày 30 tháng 12 thời điểm năm 2012). “Schweizer Jahreshitparade 2012”. hitparade.ch. Bản gốc tàng trữ ngày 12 tháng một năm trước đó. Truy vấn ngày 5 tháng một năm trước đó.
  110. ^ “Billboard 200 Albums – 2012 Year End Charts”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media. Bản gốc tàng trữ ngày 3 tháng bảy năm 2014. Truy vấn ngày 16 tháng 12 thời điểm năm 2012.
  111. ^ “Rock Albums – 2012 Year End Charts”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media. Truy vấn ngày 16 tháng 12 thời điểm năm 2012.
  112. ^ “Alternative Albums – 2012 Year End Charts”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media. Truy vấn ngày 16 tháng 12 thời điểm năm 2012.
  113. ^ “Hard Rock Albums – 2012 Year End Charts”. Billboard. Bản gốc tàng trữ ngày 15 tháng 12 năm 2015. Truy vấn ngày 22 tháng 12 thời điểm năm 2012.
  114. ^ “Archived copy”. Bản gốc tàng trữ ngày 26 tháng hai năm 2014. Truy vấn ngày 2 tháng 12 năm 2014.Điều hành quản lý CS1: bản tàng trữ là tiêu đề (kết nối)
  115. ^ “Hard Rock Albums: 2013 Year End Charts”. Billboard. Prometheus Global Truyền thông media. Bản gốc tàng trữ ngày 8 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 28 tháng hai năm 2015.
  116. ^ Top Indian albums of the week IMI Retrieved ngày 18 tháng tám năm 2014.
  117. ^ “Linkin Park – Chart History: The Hot 100”. Billboard. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  118. ^ “Linkin Park – Chart History: Alternative Songs”. Billboard. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  119. ^ “Linkin Park – Chart History: Mainstream Rock Songs”. Billboard. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  120. ^ “Discography Linkin Park”. australian-charts.com. Hung Medien. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  121. ^ “Linkin Park – Chart History: Canadian Hot 100”. Billboard. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  122. ^ aă“Chartverfolgung / Linkin Park / Single”. musicline.de (bằng tiếng German). GfK Entertainment. Bản gốc tàng trữ ngày 16 tháng 10 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  123. ^ “Discography Linkin Park”. irish-charts.com. Hung Medien. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  124. ^ “Discography Linkin Park”. charts.nz. Hung Medien. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  125. ^ “Discography Linkin Park”. swisscharts.com. Hung Medien. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
  126. ^ Peak chart positions for Living Things singles in the United Kingdom:

    • “Burn It Down”: “Linkin Park”. Official Charts Company. Bản gốc tàng trữ ngày 20 tháng 11 năm 2011. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.
    • “Lost in the Echo”: Zywietz, Tobias. “Chart: CLUK Cập nhật 7.07.2012 (wk26)”. zobbel.de. Truy vấn ngày 18 tháng ba năm 2017.

  127. ^ “パワーレス(映画「リンカーン/秘密の書」エンディングテーマ) – Single”. iTunes Store (JP) (bằng tiếng Japanese). Apple. Truy vấn ngày 16 tháng sáu năm 2014.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  128. ^ “Linkin Park – Chart History: Hard Rock Digital Songs”. Billboard. Bản gốc tàng trữ ngày 5 tháng hai 2016. Truy vấn ngày 9 tháng bảy năm 2014.
  129. ^ Peak chart positions for other charted songs on the Rock Chart in the United Kingdom:

    • “Blackbirds”: “Official Rock & Metal Singles Chart Top 40 (ngày 19 tháng chín năm 2010 – ngày 25 tháng chín năm 2010)”. Official Charts Company. Truy vấn ngày 3 tháng tư năm 2015.
    • “In My Remains” và “I’ll Be Gone”: “Official Rock & Metal Singles Chart Top 40 (ngày thứ nhất tháng bảy thời điểm năm 2012 – ngày 7 tháng bảy thời điểm năm 2012)”. Official Charts Company. Truy vấn ngày 3 tháng tư năm 2015.
    • “Keys lớn the Kingdom” và “All for Nothing”: “Official Rock & Metal Singles Chart Top 40 (ngày 22 tháng sáu năm 2014 – ngày 28 tháng sáu năm 2014)”. Official Charts Company. Truy vấn ngày 3 tháng tư năm 2015.

  130. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Hiệp hội cộng đồng Công nghiệp ghi âm Úc.
  131. ^ “Austrian album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy vấn ngày 12 tháng bảy thời điểm năm 2012. Nhập Linkin Park vào ô Interpret (Search). Nhập Living Things vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  132. ^ “Linkin Park “Living Things”. IFPI Denmark. ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy vấn ngày 24 tháng 10 năm 2017.
  133. ^ “Kulta- ja platinalevyt” (bằng tiếng Finnish). Truy vấn ngày 9 tháng hai năm trước đó.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  134. ^ “Finland album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland.
  135. ^ “France album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l’édition phonographique. Truy vấn ngày 3 tháng ba năm 2014.
  136. ^ “Certifications Albums – Années 2013” (PDF) (bằng tiếng French). Syndicat National de l’Édition Phonographique. Truy vấn ngày 3 tháng ba năm 2014.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối)
  137. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Linkin Park; ‘Living Things’)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy vấn ngày 30 tháng chín năm 2015.
  138. ^ Sources newspapers Indian ExpressTimes of India. ngày 31 tháng tám năm 2014. Truy vấn ngày 18 tháng tám năm 2014.
  139. ^ “Italy album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy vấn ngày 8 tháng sáu năm 2020.Điều hành quản lý CS1: ngữ điệu không rõ (kết nối) Chọn “2020” trong bảng chọn “Anno”. Nhập “Living Things” vào ô “Filtra”. Chọn “Album e Compilation” bên dưới phần “Sezione”.
  140. ^ “Nhật Bản album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội cộng đồng Công nghiệp ghi âm nước Nhật. Truy vấn ngày 12 tháng bảy thời điểm năm 2012. Chọn 2012年06月 trong menu thả xuống
  141. ^ “New Zealand album certifications – Linkin Park – Living Things”. Recorded Music NZ. Truy vấn ngày 12 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  142. ^ “Poland album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV.
  143. ^ “The Official Swiss Charts và Music Community: Awards (Linkin Park; ‘Living Things’)”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy vấn ngày 12 tháng bảy thời điểm năm 2012.
  144. ^ “Britain album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy vấn ngày 25 tháng tám thời điểm năm 2012. Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn ‘ trong Group lệnh Certification. Nhập Living Things vào khung “Tìm kiếm BPI Awards” rồi nhấn Enter
  145. ^ “American album certifications – Linkin Park – Living Things” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội cộng đồng Công nghiệp ghi âm Đất nước Hoa Kỳ. Nếu cần, nhấn Advanced Tìm kiếm, bên dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Tìm kiếm
  146. ^ “Recording Industry in Numbers” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. 2013. tr. 11. Bản gốc (PDF) tàng trữ ngày 9 tháng tư năm trước đó. Truy vấn ngày 15 tháng chín năm 2020.
  147. ^ Yandex Music”. Yandex. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  148. ^ “Buy Living Things Linkin Park, Rock, CD”. Sanity.com.au. Bản gốc tàng trữ ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 30 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  149. ^ iTunes Austria”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  150. ^ iTunes Belgium”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  151. ^ iTunes Germany”. iTunes. Truy vấn ngày 24 tháng tư thời điểm năm 2012.
  152. ^ iTunes Ireland”. iTunes. Truy vấn ngày 16 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  153. ^ “Living Things, disco (CD) di Linkin Park”. La Feltrinelli (Trực tuyến Store). Bản gốc tàng trữ ngày 30 tháng sáu thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 30 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  154. ^ iTunes Netherlands”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  155. ^ iTunes New Zealand”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  156. ^ iTunes Norway”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  157. ^ “Living Things(Album)”. HMV. Bản gốc tàng trữ ngày 18 tháng tư năm trước đó. Truy vấn ngày 22 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  158. ^ iTunes Switzerland”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  159. ^ iTunes Denmark”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  160. ^ iTunes France”. iTunes. Truy vấn ngày 28 tháng năm thời điểm năm 2012.
  161. ^ iTunes Poland”. iTunes. Truy vấn ngày 17 tháng tư thời điểm năm 2012.
  162. ^ Eames, Tom (ngày 16 tháng tư thời điểm năm 2012). “Linkin Park release new single, confirm album release date – listen”. Digital Spy. Truy vấn ngày 2 tháng năm thời điểm năm 2012.
  163. ^ LIVING THINGS – Livraria Cultura (WARNER MUSIC)”. Livraria Cultura. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.[liên kết hỏng]
  164. ^ LIVING THINGS”. iTunes. Truy vấn ngày 16 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  165. ^ LIVING THINGS”. Mixup Store. Bản gốc tàng trữ ngày 17 tháng 12 thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 26 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  166. ^ “radioeksen.com”. Bản gốc tàng trữ ngày 12 tháng một năm trước đó.
  167. ^ “Living Things (Albumi)”. CDON. Truy vấn ngày 17 tháng sáu thời điểm năm 2012.
  168. ^ “Living Things (Album)”. musicaneto. Bản gốc tàng trữ ngày 7 tháng bảy thời điểm năm 2012. Truy vấn ngày 17 tháng sáu thời điểm năm 2012.

Bài Viết: Living Things (album của Linkin Park) là gì? Chi tiết về Living Things (album của Linkin Park) mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Video Hướng dẫn tạo Robot giao dịch và Tặng Robot giao dịch Forex CHN Bot | CHN PRO TRADING - huong dan eobot

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.