Giáo dục đặc biệt là gì? Chi tiết về Giáo dục đặc biệt mới nhất 2022

Giáo dục đặc biệt (nói một cách khác là giáo dục yêu cầu đặc biệt, giáo dục giúp đỡ hoặc SPED – special education) là thực hành thực tế giáo dục học viên theo phương thức xử lý sự khác biệt cá thể and yêu cầu cá thể của mình. Lý tưởng nhất, giai đoạn này gồm có sự thu xếp theo chiến lược và đã được đo lường và tính toán một phương thức có mạng lưới hệ thống những tiến trình đào tạo, loại thiết bị and dữ liệu hợp lý và phải chăng and những tùy chọn về học hành cho tất cả những người khuyết tật. Các can thiệp này được thiết kế với để cứu những cá thể yêu cầu đặc biệt có được mức độ tự cung and thắng lợi cá thể cao hơn nữa ở trường and trong toàn cầu của mình, vấn đề này có khả năng không tồn tại nếu học viên chỉ đc tiếp cận với giáo dục trong lớp học thỉnh thoảng.

Giáo dục đặc biệt gồm có năng lực học hành (ví dụ điển hình như chứng khó đọc), xôn xao tiếp xúc, xôn xao xúc cảm and hành động (như ADHD), khuyết tật (chẳng hạn như bệnh xương dễ gãy, bại não, loạn dưỡng cơ bắp, nứt đốt sống, and mất máy điều hòa Friedreich), and khuyết tật cách tân và phát triển (ví dụ điển hình như xôn xao phổ tự kỷ and khuyết tật trí tuệ) and nhiều khuyết tật khác.[1] Học viên với nhiều chủng loại khuyết tật này có khả năng đc hưởng lợi từ những dịch vụ giáo dục bổ sung cập nhật như chiêu bài đào tạo không giống nhau, dùng công nghệ tiên tiến, xung quanh vị trí đào tạo đc căn sửa chi tiết hoặc phòng khoáng sản riêng biệt.

Xem:  Hội chứng Guillain-Barré là gì? Chi tiết về Hội chứng Guillain-Barré mới nhất 2022

Năng khiếu sở trường trí tuệ là một sự khác biệt trong học hành and cũng xuất hiện thể đc hưởng lợi từ những kỹ thuật đào tạo chuyên ngành hoặc những chương trình giáo dục không giống nhau, nhưng thuật ngữ “giáo dục đặc biệt” thường dùng để chỉ chi tiết chỉ dẫn học viên khuyết tật. Giáo dục năng khiếu sở trường đc giải quyết riêng.

Trong những khi giáo dục đặc biệt được thiết kế với dành cho việc học hành của học viên khuyết tật, giáo dục giải quyết và khắc phục có khả năng được thiết kế với cho ngẫu nhiên học viên nào, có hoặc không yêu cầu đặc biệt; đặc điểm cam kết đơn giản và dễ dàng là họ đã chiếm hữu tới điểm không chuẩn bị sẵn sàng, bất kỳ tại sao. Ví dụ, ngay cả các người dân có trí lanh lợi cao cũng xuất hiện thể đạt điểm không chuẩn bị sẵn sàng bên dưới mức nếu giáo dục của mình bị gián đoạn, ví dụ, do phải di chuyển nội bộ trong xôn xao án dân sự hoặc cuộc chiến tranh.

Ở hầu như những nước cách tân và phát triển, những nhà giáo dục chỉnh sửa chiêu bài and môi trường tự nhiên đào tạo để con số học sinh sinh viên tối đa đc ship hàng trong môi trường tự nhiên giáo dục chung. Cho nên, giáo dục đặc biệt ở những nước cách tân và phát triển thường được nhìn nhận là một dịch vụ hơn là một xung quanh vị trí.[2][3][4][5][6] Việc học chung có khả năng làm giảm sự tẩy chay toàn cầu and cải sinh thành tích học hành cho nhiều học viên.[7]

Xem:  Video Hướng dẫn đấu dây màn hình DVD oto - hướng dẫn đấu loa

Trái lập với giáo dục đặc biệt là giáo dục đại trà phổ thông. Giáo dục đại trà phổ thông là chương trình đào tạo chuẩn mức đc cần sử dụng mà dường như không có chiêu bài đào tạo hoặc giúp đỡ đặc biệt. Học viên nhận thêm các dịch vụ giáo dục đặc biệt thông thường có khả năng ĐK vào môi trường tự nhiên giáo dục chung để học cùng theo với học viên không biến thành khuyết tật.

Tìm hiểu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ What is special education? from New Zealand’s Ministry of Education
  2. ^ National Council on Disability. (1994). Inclusionary education for students with special needs: Keeping the promise. Washington, DC: Author.
  3. ^

    Swan, William W.; Morgan, Janet L (1993). “The Local Interagency Coordinating Council”. Collaborating for Comprehensive Services for Young Children và Their Families. Baltimore: Paul H. Brookes Pub. Co. ISBN 978-1-55766-103-6. OCLC 25628688. OL 4285012W.

  4. ^ Beverly Rainforth; York-Barr, Jennifer (1997). Collaborative Teams for Students With Severe Disabilities: Integrating Therapy và Educational Services. Brookes Publishing Company. ISBN 978-1-55766-291-0. OCLC 25025287.
  5. ^ Stainback, Susan Bray; Stainback, William C. (1996). Hỗ trợ tư vấn Networks for Inclusive Schooling: Interdependent Integrated Education. Paul H Brookes Pub Co. ISBN 978-1-55766-041-1. OCLC 300624925. OL 2219710M.
  6. ^ Gaylord-Ross, Robert (1989). Integration strategies for students with handicaps. Baltimore: P..H. Brookes. ISBN 978-1-55766-010-7. OCLC 19130181.
  7. ^ Gartner, Alan; Dorothy Kerzner Lipsky (1997). Inclusion và School Reform: Transforming America’s Classrooms. Brookes Publishing Company. ISBN 978-1-55766-273-6. OCLC 35848926.

Bài Viết: Giáo dục đặc biệt là gì? Chi tiết về Giáo dục đặc biệt mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.