Erich Maria Remarque là gì? Chi tiết về Erich Maria Remarque mới nhất 2022

Erich Maria Remarque

Erich Maria Remarque (1928)

Erich Maria Remarque (1928)

Sinh (1898-06-22)22 tháng sáu năm 1898
Osnabrück, Lower Saxony, Đức
Mất 25 tháng chín năm 1970(1970-09-25) (72 tuổi)
Locarno, Thụy Sĩ
Việc làm Tiểu thuyết gia
Quốc tịch Đức
Tư phương pháp công dân Đất nước Hoa Kỳ
Sản phẩm thực tế tính chất Phía Tây không tồn tại gì quá lạ
Phối ngẫu 1) Ilse Jutta Zambona (1925-1930; ly dị)
2) tái hôn Ilse Zambona (1938-1957; ly dị)
3) Paulette Goddard (1958–1970)


Erich Maria Remarque (dịch âm tiếng Đức: [ˈʔeːʀɪç maˈʀiːaˑ ʀeˈmaʀk]) (22 tháng sáu năm 1898 – 25 tháng chín năm 1970), tên khai sinh Erich Paul Remark, là nhà văn người Đức, đc nghe biết nhiều nhất với sản phẩm thực tế Phía Tây không tồn tại gì quá lạ.

Cuộc sống and Công danh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Erich Maria Remarque sinh ngày 22 tháng sáu năm 1898 trong 1 GĐ thuộc giai cấp lao động ở đô thị Osnabrück, Đức. Cha của ông là Peter Franz Remark (sinh ngày 14.6.1867 tại Kaiserswerth) còn mẹ là Anna Maria (nhũ danh Stallknecht, sinh ngày 21.11.1871 tại Katernberg).

Cuộc chiến tranh trái đất đợt thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Remarque du nhập quân đội ở tuổi 18 trong thời Cuộc chiến tranh trái đất thứ nhất. Ngày 12.6.1917, ông đc chuyển tới Chiến trường phía Tây, Ship hàng ở Sư đoàn Bộ binh Trừ bị số 2 đồn trú tại Hem-Lenglet. Ngày 26.6.1917, ông đc chuyển tới trung đội Công binh Bethe, thuộc đại đội 2, trung đoàn Bộ binh trừ bị thứ 15, đồn trú ở chính giữa Torhout and Houthulst. Ngày 31.7.1917, ông bị thương ở chân trái, ở cánh tay phải and ở cổ vì trúng những mảnh đạn trái phá, và đã được đưa về điều trị trong 1 bệnh viện quân đội Đức cho đến hết đại chiến.

Làm giáo viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cuộc chiến tranh trái đất thứ nhất, ông xuất ngũ học ngành sư phạm rồi làm giáo viên tiểu học từ thời điểm ngày 1.8.1919 tại Wietmarschen, thời đó thuộc huyện Lingen, nay thuộc huyện Grafschaft Bentheim. Từ thời điểm tháng 5 năm 1920 ông thao tác ở Klein Berßen thuộc huyện Hümmling cũ, nay là huyện Emsland, and từ thời điểm tháng 8 năm 1920 ông thao tác ở Nahne (sáp nhập khẩu đô thị Osnabrück từ thời điểm năm 1972). Ngày 20.11.1920 ông xin nghỉ dạy học.

Những công việc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khoản thời gian nghỉ dạy học, Erich đã làm nhiều việc khác biệt như nhân viên cấp dưới thư viện, kinh doanh, nhà báo, đổi thay viên vv… Việc làm viết lách thứ nhất đc trả lương của ông là việc viết kỹ thuật cho Doanh nghiệp Continental AG, một C.ty chế tạo lốp xe của Đức[1].

Tiểu thuyết gia[sửa | sửa mã nguồn]

200px Bundesarchiv Bild 183 R04034%2C Erich Maria Remarque

Remarque tại Davos năm 1929.

Remarque đã thử viết văn từ khi 16 tuổi bằng các bài tiểu luận, thơ and ban sơ viết quyển tiểu thuyết Die Traumbude đc xuất bản năm 1920. Khi xuất bản quyển Phía Tây không tồn tại gì quá lạ (Im Westen nichts Neues), Remarque thay tên đệm thành Maria để tưởng nhớ người mẹ and lấy lại tên họ nguyên thủy là Remarque (đã trở nên ông nội đổi thành Ramark từ thế kỷ thứ 19)[2].

Năm 1927, Remarque ban sơ viết quyển tiểu thuyết thứ 2 Station am Horizont (Trạm ở chân trời), đc đăng từng kỳ trên tạp chí thể thao “Thể Thao im Bild” Vị trí Remarque cộng tác. Quyển này chỉ đc xuất bản bên dưới dạng sách trong những năm 1998. Sản phẩm thực tế đình đám nhất của ông, Phía Tây không tồn tại gì quá lạ (Im Westen nichts Neues), đã đc viết trong vài ba tháng năm 1927, nhưng Remarque không tìm ra một nhà xuất bản.[3], mà cần phải đợi mãi tới năm 1929 mới đc xuất bản. Tiểu thuyết này diễn đạt những kinh nghiệm tay nghề từng trải của không ít người lính Đức trong Cuộc chiến tranh trái đất thứ nhất. Tiếp nối, ông viết một số trong những sản phẩm thực tế y như bằng ngôn từ giản dị và đơn giản đầy cảm hứng diễn đạt các event thời chiến and trong thời gian sau cuộc chiến tranh.
Năm 1931, sau thời điểm hoàn tất quyển Der Weg zurück (Đường trở về), Remarque mua một biệt thự hạng sang ở thị trấn Ronco sopra Ascona (Thụy Sĩ), để vừa cư ngụ tại đây vừa ở Pháp.
Quyển tiểu thuyết tiếp sau của ông là Drei Kameraden (Ba người bạn), diễn đạt thuở nào kỳ kéo dãn lâu lăm của Cộng hòa Weimar, từ cuộc mức lạm phát phi mã năm 1923 đến cuối thập niên 1920. Cuốn tiểu thuyết thứ tư của Remarque là quyển Liebe deinen Nächsten (dịch sang tiếng Anh là Flotsam hoặc Love Thy Neighbour), xuất hiện thêm thứ nhất trên tạp chí Collier’s năm 1939 bên dưới bản dịch từng kỳ sang tiếng Anh, Remarque đã đạt thêm một năm thay thế lại rồi mới in thành sách cả bằng tiếng Đức lẫn tiếng Anh trong những năm 1941. Tiểu thuyết tiếp sau của ông là quyển Khải Hoàn Môn, đc xuất bản lần đầu bằng tiếng Anh trong những năm 1945, năm tiếp theo đc xuất bản bằng tiếng Đức, đã lập cập biến thành quyển sách hút khách nhất với lệch giá gần 5 triệu dollar Mỹ.

Thời kỳ Đức Quốc xã[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10.5.1933, cơ quan chính phủ Đức – theo ý tưởng sáng tạo của bộ trưởng liên nghành Bộ Tuyên truyền Quốc xã Joseph Goebbels – đã cấm and công khai minh bạch đốt những sản phẩm thực tế của Remarque. Remarque sau cùng phải rời Đức sang sinh sống tại biệt thự hạng sang của ông ở Thụy Sĩ. Đức quốc xã thường xuyên đả kích sản phẩm thực tế của ông and công bố rằng ông là hậu duệ của những người Pháp gốc Do Thái and rằng tên họ thật của ông là Kramer, một tên nghe có vẻ như Do Thái, and tên gốc của ông đc đánh vần ngược. Vấn đề này vẫn đc trích dẫn trong một số trong những bản tiểu sử, cố chấp chứng cứ không vừa đủ. Đức quốc xã cũng khẳng định chắc chắn – phương pháp giả dối – là Remarque đang không nhập ngũ trong Cuộc chiến tranh trái đất thứ nhất. Năm 1938, ông bị tịch thu quốc tịch Đức, rồi tiếp nối vào thời điểm năm 1939 sau thời điểm ông and người bà xã cũ đã tái hôn để chặn lại việc bà phải hồi hương về Đức, họ đã rời Porto Ronco, Thụy Sĩ để sang Đất nước Hoa Kỳ[4]. Họ nhập quốc tịch Mỹ năm 1947[5].

Năm 1943, cơ quan chính phủ Đức bắt giam người chị/em của ông, Elfriede Scholz, người đã ở lại Đức với chồng and 2 người con của bà. Sau đó 1 phiên xét xử ngắn ở “Volksgerichtshof” (“TAND nhân dân” ngoài hiến pháp của Hitler), Scholz bị kết tội “phá hoại ngầm ý thức” vì đã bảo rằng đại chiến tranh đó sẽ thất bại. Chủ tọa phiên tòa xét xử Roland Freisler công bố: “ Ihr Bruder ist uns Leider entwischt-Sie aber werden uns nicht entwischen” (“Rủi ro là người anh trai của mụ đã ra khỏi tầm tay của chúng tôi, thế nhưng, mụ sẽ không còn ra khỏi tay chúng tôi”). Scholz đã trở nên chặt đầu ngày 16 tháng 12 năm 1943, and giá cả cho sự bắt giam, truy tố cùng việc xử tử Scholz là 495,80 Đức Mã – đc gán cho những người em gái của Scholz là Erna phải gánh chịu[6].

Thụy Sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1948, Remarque quay trở về Thụy Sĩ sống hết cuộc sống sót lại. Chứa một khoảng chừng phương pháp bảy năm – một sự yên lặng dài của Remarque – giữa quyển Khải Hoàn Môn and sản phẩm thực tế tiếp sau của ông Der Funke Leben (Tia lửa sống), xuất hiện thêm bằng cả tiếng Đức and tiếng Anh vào thời điểm năm 1952. Trong những lúc đang viết quyển Der Funke Leben Remarque đã và đang viết tiếp một cuốn tiểu thuyết khác Zeit zu Leben und Zeit zu sterben (Thời để sống and Thời để chết). Quyển đó được xuất bản lần đầu trong bản dịch tiếng Anh năm 1954 với nhan đề không trọn vẹn theo nghĩa đen A Time lớn Love và a Time lớn Die (Thuở nào để Yêu and một Thời để Chết). Năm 1958, Douglas Sirk đã đạo diễn bộ phim truyện A Time lớn Love và a Time lớn Die ở Đức, dựa vào cuốn tiểu thuyết nhắc tới ở bên trên của Remarque. Remarque đã đóng một vai bé dại là vai vị Giáo sư trong phim này.

Năm 1955, Remarque đã viết ngữ cảnh cho 1 phim Áo: Der letzte Akt (Màn chót), về các ngày sau cùng của Hitler trong căn hầm của Phủ thủ tướng Đức ở Berlin, dựa vào bộ sách Ten days lớn die (1950) của Michael Musmanno. Năm 1956, Remarque đã viết một vở kịch sân khấu Full Circle (Die letzte Station) đc diễn thắng lợi ở cả Đức lẫn trên sân khấu Broadway. Bản dịch tiếng Anh đc xuất bản vào thời điểm năm 1974 nhan đề Heaven Has No Favorites đc đăng từng kỳ trên báo (với tiêu đề Borrowed Life (Cuộc sống vay mướn) vào thời điểm năm 1959 rồi đc in thành sách vào thời điểm năm 1961 và đã được chuyển thể thành bộ phim truyện Bobby Deerfield năm 1977. Quyển Die Nacht von Lissabon (Đêm ở Lisbon), đc xuất bản vào thời điểm năm 1962, là sản phẩm thực tế sau cùng của Remarque. Cuốn tiểu thuyết này bán tốt khoảng chừng 900.000 bản tại Đức and là một bộ sách hút khách ở quốc tế.

Những mối tình and những cuộc hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc hôn nhân gia đình thứ nhất của Remarque là với cô diễn viên Ilse Jutta Zambona vào thời điểm năm 1925[7]. Cuộc hôn nhân gia đình của mình đầy bão tố đến cả phía hai bên đều không chung thủy. Remarque and Zambona ly dị vào thời điểm năm 1930, nhưng phải với nhau chạy trốn về ngôi biệt thự hạng sang ở Porto Ronco, Thụy Sĩ vào thời điểm năm 1933 khi Đức quốc xã nắm quyền ở Đức. Tháng năm năm 1933, quyển tiểu thuyết Phía Tây không tồn tại gì quá lạ của ông đã trở nên đốt trong lần đốt sách thứ nhất của Đức Quốc xã and vấn đề này cũng trở thành cụ thể rằng cả Remarque lẫn Zambona đều đã không còn gì quay trở về Đức.[8]

Trong thập niên 1930, Remarque đã có rất nhiều các mối quan hệ yêu đương với cô diễn viên Hedy Lamarr người Áo rồi với Marlene Dietrich [9] and trong thập niên 1940 với Greta Garbo.[10]. Chuyện tình với Dietrich bắt nguồn từ tháng chín năm 1937 khi họ gặp nhau ở Lido khi tham gia Tiệc tùng phim Venezia and thường xuyên ít nhất cho đến năm 1940, hầu hết là gọi điện liên lạc qua thư từ, điện tín and điện thoại thông minh. Một tập hợp những thư của mình đã đc xuất bản năm 2003 trong quyển “Sag Mir, Dass Du Mich Liebst”(Hãy nói là Anh yêu Em hoặc Em yêu Anh)[11] rồi từ thời điểm năm 2011 trong vở kịch Puma[12].
Năm 1938, Remarque and người bà xã cũ Zambona tái hôn cùng với nhau ở Thụy Sĩ nhằm mục tiêu ngăn chặn việc Zambona bị cưỡng bách quay trở về Đức, rồi tiếp nối họ nhập cảnh vào Đất nước Hoa Kỳ năm 1939 đến cả hai người đều nhập quốc tịch Mỹ năm 1947[13]. Họ lại ly dị đợt nữa vào trong ngày 20.5.1957, lần này là lâu dài. Zambona qua đời ngày 25.6.1975.[cần dẫn nguồn]

Năm 1958 Remarque lại kết duyên với cô diễn viên Paulette Goddard and họ gắn bó cùng với nhau cho đến khi Remarque từ trần tại Locarno ngày 25.9.1970, thọ 72 tuổi[14]. Remarque đc an táng ở nghĩa địa Ronco ở thị trấn Ronco sopra Ascona, bang Ticino, Thụy Sĩ. Goddard từ trần năm 1990 và đã được an táng ở bên cạnh chồng mình.
Bà để lại một gia tài thừa hưởng 20 triệu dollar Mỹ cho ĐH Thủ đô New York để hỗ trợ tài chính cho sự lập Viện điều tra và nghiên cứu về châu Âu, đc đặt theo tên Remarque.[15]
GĐ thứ nhất của Viện Remarque là giáo sư Tony Judt[16]. Những sách vở của Remarque đc lưu giữ ở thư viện Fales của ĐH Thủ đô New York.[17]
ĐH Thủ đô New York cũng đặt tên một khu nhà ở ký túc xá dành riêng cho học sinh sinh viên chưa cực tốt nghiệp theo tên bà: Paulette Goddard Hall.

Biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp Casa Monte Tabor[sửa | sửa mã nguồn]

Hiên giờ các cố gắng nỗ lực để gây một khoản quỹ 6,2 triệu Franc Thụy Sĩ (7 triệu dollar Mỹ), để sở hữ cùng dữ gìn và bảo vệ ngôi biệt thự hạng sang Casa Monte Tabor của Erich Maria Remarque and Paulette Goddard cho khỏi bị tiêu diệt đang rất được tiến hành triển khai. Mục tiêu là để biến ngôi biệt thự hạng sang này thành một nhà kho lưu trữ bảo tàng and là Vị trí dành riêng cho chương trình nghệ sĩ cư trú để sáng tác tại chỗ, tập chú vào tính sáng chế, chủ quyền and độc lập[18]

Hạng mục sản phẩm thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Ngày tháng những ấn phẩm bằng tiếng Anh là ngày tháng xuất bản thứ nhất bên dưới dạng sách.

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

150px Remarque Im Westen nichts Neues 1929

Bản Im Westen nichts Neues nguyên thủy năm 1929

  • (1920) Die Traumbude. Ein Künstlerroman; Bản dịch tiếng Anh: The Dream Room
  • (viết năm 1924, xuất bản năm 1998) Gam
  • (1928) Station am Horizont; Bản dịch tiếng Anh: Station at the Horizon (Trạm ở chân trời) tiểu thuyểt
  • (1929) Im Westen nichts Neues; Bản dịch tiếng Anh: All Quiet on the Western Front (Phía Tây không tồn tại gì quá lạ) (1929) tiểu thuyết đầu tay
  • (1931) Der Weg zurück; Bản dịch tiếng Anh: The Road Back (Đường về) (1931) tiểu thuyết
  • (1936) Drei Kameraden; Bản dịch tiếng Anh: Three Comrades (Ba người bạn) (1937) tiểu thuyết
  • (1939) Liebe deinen Nächsten (Hãy yêu thương tha nhân); Bản dịch tiếng Anh: Flotsam (1941)
  • (1945) Arc de Triomphe; Bản dịch tiếng Anh: Arch of Triumph (Khải Hoàn Môn) (1945)
  • (1952) Der Funke Leben; Bản dịch tiếng Anh: Spark of Life (Tia lửa sống) (1952) tiểu thuyết
  • (1954) Zeit zu leben und Zeit zu sterben; Bản dịch tiếng Anh: A Time lớn Love và a Time lớn Die (Thời để sống and thời để chết) (1954) tiểu thuyết
  • (1956) Der schwarze Obelisk; Bản dịch tiếng Anh: The Black Obelisk (Bia mộ đen)(1957) tiểu thuyết
  • (1961) Der Himmel kennt keine Günstlinge (serialized as Geborgtes Leben); Bản dịch tiếng Anh: Heaven Has No Favorites (1961)
  • (1962) Die Nacht von Lissabon; Bản dịch tiếng Anh: The Night in Lisbon (Đêm ở Lisbon) (1964) tiểu thuyết
  • (1970) Das gelobte Land; Bản dịch tiếng Anh: The Promised Land (Đất hứa)
  • (1971) Schatten im Paradies; Bản dịch tiếng Anh: Shadows in Paradise (Bóng tối thiên đàng) (1972) tiểu thuyết

Những sản phẩm thực tế khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • (1931) Der Feind; Bản dịch tiếng Anh: The Enemy (1930–1931); truyện ngắn
  • (1955) Der letzte Akt; Bản dịch tiếng Anh: The Last Act; ngữ cảnh
  • (1956) Die letzte Station; Bản dịch tiếng Anh: Full Circle (1974); kịch
  • (1988) Die Heimkehr des Enoch J. Jones; Bản dịch tiếng Anh: The Return of Enoch J. Jones; kịch
  • (1994) Ein militanter Pazifist; Bản dịch tiếng Anh: A Militant Pacifist; chất vấn and tiểu luận

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Parvanová, Mariana (2010). “… das Symbol der Ewigkeit ist der Kreis”. Eine Untersuchung der Motive in den Romanen von Erich Maria Remarque. München: GRIN-Verlag. ISBN 978-3-640-64739-2. (tiếng Đức)

  • Parvanová, Mariana (2009). E. M. Remarque in der kommunistischen Literaturkritik in der Sowjetunion und in Bulgarien. Remscheid: ReDiRoma Verlag. ISBN 978-3-86870-056-5. (tiếng Đức)

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Exactly as it happened… (the story of an encounter in Ticino with Remarque và the coach-built Lancia Dilambda, which, following the commercial success of All Quiet on the Western Front, he purchased in 1931 và retained till the late 1960s)”. Motor. 3506: pages 26–30. date ngày 30 tháng tám năm 1969.
  2. ^ Afterword by Brian Murdoch, translator of 1996 English edition of All Quiet on the Western Front. London: Vintage Books. 1996. tr. 201. ISBN 978-0-09-953281-1.
  3. ^ Robertson, William. “Erich Remarque”. Truy vấn ngày 25 tháng sáu năm 2009.
  4. ^ “Erich Maria Remarque Papers”. Truy vấn 14 tháng ba năm 2015.
  5. ^ Schneider, Thomas (1991). Erich Maria Remarque: Ein Chronist des 20. Jahrhunderts, Eine Biographie in Bildern und Dokumenten. Germany: Rasch Verlag Bramsche. tr. 94–95.
  6. ^ net.de/kulturnachrichten/151205a.html “Elfriede Scholz Obituary” (bằng tiếng Đức). Osnabrück Cultural Trang web. ngày 15 tháng 12 năm 2005. Truy vấn ngày 25 tháng sáu năm 2009.Điều hành quản lý CS1: ngôn từ không rõ (kết nối)
  7. ^ “Erich Maria Remarque”. Bản gốc tàng trữ ngày một tháng tám năm 2008. Truy vấn ngày 25 tháng sáu năm 2009.
  8. ^ Taylor, Marvin J. The life và writings of Erich Maria Remarque. Thủ đô New York: Fales Library, Thủ đô New York University, 2011. Truy vấn ngày 29 tháng bảy thời điểm năm 2012.http://www.nyu.edu/library/bobst/research/fales/exhibits/remarque/documents/bio6.html
  9. ^ “Kate Connolly on Berlin’s Marlene Dietrich celebrations”. the Guardian. Truy vấn 14 tháng ba năm 2015.
  10. ^ Afterword by Brian Murdoch, translator of 1996 English edition of All Quiet on the Western Front. London: Vintage Books. 1996. tr. 201. ISBN 978-0-09-953281-1.
  11. ^ “Marlene Dietrich und Remarque: “Madonna meines Blutes” – SPIEGEL ONLINE”. SPIEGEL ONLINE. Truy vấn 23 tháng chín năm 2015.
  12. ^ “Marlene Dietrich Is Focus of Puma, a NJ Rep World Premiere Starting Feb. 24”. Playbill. Truy vấn 14 tháng ba năm 2015.
  13. ^ Bloom, Harold (2001). “Chronology”. Modern Critical Interpretations: Erich Maria Remarque’s All Quiet on the Western Front. Philadelphia: Chelsea House Publishers. tr. 157.
  14. ^ Dictionary of Literary Biography, Volume 56: German Fiction Writers, 1914–1945. A Bruccoli Clark Layman Book. Edited by James Hardin, University of South Carolina. The Gale Group, 1987. pp. 222–241
  15. ^ “Paulette Goddard Left N.Y.U. $20 Million”. Truy vấn 14 tháng ba năm 2015.
  16. ^ “About Us.” Remarque Institute. Thủ đô New York University. No date. Truy vấn ngày 29 tháng bảy thời điểm năm 2012. http://remarque.as.nyu.edu/page/history
  17. ^ Taylor, Marvin J. “Introduction.”The life và writings of Erich Maria Remarque.Thủ đô New York: Fales Library, Thủ đô New York University, 2011. Truy vấn ngày 29 tháng bảy thời điểm năm 2012.http://www.nyu.edu/library/bobst/research/fales/exhibits/remarque/documents/intro.html
  18. ^ La villa d’Erich Remarque en danger. sur swissinfo.ch (Nov2010).http://www.swissinfo.ch/ger/kultur/Remarque-Villa_im_Tessin_droht_der_Abbruch.html?cid=28722548

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bài Viết: Erich Maria Remarque là gì? Chi tiết về Erich Maria Remarque mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Video Task 3: Điều khiển robot 3 bậc tự do bằng MATLAB simulink - hướng dẫn học matlab

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.