Điện ảnh Triều Tiên là gì? Chi tiết về Điện ảnh Triều Tiên mới nhất 2022

Unified Korea film clapperboard.svg

Điện ảnh bán hòn đảo Triều Tiên (tiếng Triều Tiên: 한국의 영화) là tên thường gọi ngành công nghiệp điện ảnh của Triều Tiên (tính cho tới trước năm 1945) hoặc hai nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên – Đại Hàn Dân quốc (kể từ thời điểm năm 1945 đến lúc này). Chịu ảnh hưởng từ rất nhiều biến cố chính trị xẩy ra suốt trong quãng thế kỷ XX, từ tiến độ nước Nhật chiếm đóng Triều Tiên, Cuộc chiến tranh Triều Tiên đến tiến độ chia cắt hai miền từ thời điểm năm 1953 đến ngày này, điện ảnh Triều Tiên cũng luôn tồn tại nhiều thăng trầm.

Điện ảnh Triều Tiên trước Cuộc chiến tranh thế gới thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình sơ khai: Trước năm 1926[sửa | sửa mã nguồn]

Người đưa kỹ thuật điện ảnh vào Triều Tiên là một nhà du hành người Mỹ tên là Burton Holmes[1]. Vào khoảng thời gian 1899, ông đã công chiếu trước Cung điện hoàng gia Triều Tiên các đoạn phim trước tiên[2]. Buổi công chiếu phim thoáng mát trước tiên trước công chúng Triều Tiên ra mắt hồi tháng 6 năm 1903, là một video quảng cáo cho sự thiết kế và xây dựng tuyến tàu điện ở Seoul do 1 C.ty Mỹ tiến hành triển khai[2]. Rạp phim trước tiên của Nước Hàn, rạp Tongdaemun hwaldong sajinso cũng khá được chính sách mở cửa trong những năm 1903[3], tháng 11 năm 1907 một rạp phim khác, rạp Dansung-sa đc mở tại Seoul and vẫn tồn tại hoạt động và sinh hoạt đến thời nay. Trong tiến độ đầu, phần đông những bộ phim truyện công chiếu đc nhập từ châu Âu hoặc Đất nước Hoa Kỳ, trong những số ấy có một vài phim cũng được công chúng Nước Hàn tiếp nhận như hai sản phẩm thực tế của đạo diễn lịch sử một thời D. W. Griffith, Broken Blossoms (1919) and Way Down East (1920), bộ phim truyện Robin Hood (1922) của Douglas Fairbanks and hai bộ phim truyện của đạo diễn Đức Fritz Lang, Nibelungen Siegfried and Kriemhilds Rache (đều chế tạo năm 1924).

100px Arirang 1957 poster

Hình quảng cáo phim Arirang của Triều Tiên năm 1926

Sự Thành lập và hoạt động của ngành công nghiệp điện ảnh trong nước Triều Tiên gắn kèm với ông chủ của rạp Dansung-sa Park Sung-pil, người đã ném tiền tiến hành triển khai bộ “phim” Triều Tiên trước tiên, một vở kịch trên sân khấu có tựa đề Uirijeok Guto (의리적구토) đc thu lại bằng kỹ thuật điện ảnh, and bộ phim truyện dữ liệu Cảnh sắc TP Kyoungsoung, cả 2 cùng đc trình chiếu tại rạp Dansung-sa ngày 27 tháng 10 năm 1919. Bộ phim truyền hình điện ảnh sự thật trước tiên của điện ảnh Triều Tiên chắc hẳn rằng là một chuyển thể của Xuân Hương truyện (춘향전) đc tiến hành triển khai vào khoảng thời gian 1921. Xuân Hương truyện là một tiểu thuyết khuyết danh nhiều người biết đến của Triều Tiên and cũng là sản phẩm thực tế đc chuyển thể điện ảnh nhiều nhất, tính cho đến bộ phim truyện chuyển thể của đạo diễn Im Kwon-taek năm 2000 thì đã có rất nhiều 14 bộ phim truyện đc thiết kế và xây dựng dựa vào cuốn tiểu thuyết này[4]. Theo một vài nguồn khác[5][6] thì bộ phim truyện sự thật trước tiên đc tiến hành triển khai ở Triều Tiên lại là một sản phẩm thực tế của đạo diễn Yun Baek-nam, bộ phim truyện Ulha ui Mengse, đc trình chiếu tháng tư năm 1923.

Kỷ nguyên vàng của phim câm: 1926-1930[sửa | sửa mã nguồn]

Do là thuộc địa của nước Nhật từ thời điểm năm 1910, những hãng phim Triều Tiên đa phần do người Nhật quản lý điều hành. Một thương gia người Nhật tên là Orajo Yodo đã bỏ vốn thành lập và hoạt động hãng phim Choson Kinema Productions, hãng phim đón đầu của điện ảnh Nước Hàn thời kì này. Năm 1926, Choson Kinema giao cho diễn viên trẻ Na Woon-gyu tiến hành triển khai bộ phim truyện Nongjungjo (농중조), trong những số ấy Na đón nhận cả tầm quan trọng biên kịch, đạo diễn and thủ vai chính. Sau Nongjungjo, Na tiến hành triển khai bộ phim truyện tiếp theo sau của ông, Arirang (아리랑, lấy theo tên bài hát phổ cập nhất ở nước này), đây là bộ phim truyện ghi lại kỉ nguyên vàng của những bộ phim truyện câm Triều Tiên. Cũng như nhiều phim nước Nhật cùng thời, Arirang lại thêm một người đọc thoại and lời dẫn, một byeonsa (변사, hay benshi trong tiếng Nhật) để thuyết minh cho những bộ phim truyện câm.

Trong thời điểm cuối thập niên 1920, phim câm Triều Tiên đạt đến thời kì cực thịnh với trên 70 sản phẩm thực tế Thành lập và hoạt động trong thời kì này với chất lượng ngày 1 đc nâng cấp[7]. Trong các số đó phải kể đến những bộ phim truyện khác của Na Woon-gyu như Punguna (1926) and Deuljwi (1927). Na vào khoảng thời gian 1927 cũng hợp tác và ký kết cùng Park Sung-pil mở một hãng phim chủ quyền với chuẩn mức người Triều Tiên chế tạo phim cho tất cả những người Triều Tiên. Tuy sinh tồn trong thời điểm ngắn, nhưng hãng đó cũng cho Thành lập và hoạt động đc một vài phim đáng cảnh báo như Jalitgeola (1927), Beongeoli Sam-ryong (1929) and Salangeul chajaseo (1929).

Phim có tiếng Thành lập và hoạt động: 1930-1945[sửa | sửa mã nguồn]

Nửa đầu thập niên 1930 tận mắt chứng kiến sự sa sút của ngành công nghiệp điện ảnh phim câm Triều Tiên vì sự kiểm duyệt and đàn áp ngày 1 chặt chẽ của chính quyền trực thuộc chiếm đóng. Con số phim Thành lập và hoạt động trong thời điểm này giảm đi chỉ từ khoảng tầm 2 hoặc 3 phim mỗi năm, trong những lúc nhiều kỹ năng của điện ảnh Triều Tiên lại rời sang thao tác tại Thượng Hải, trọng tâm điện ảnh của châu Á thời đó. Bộ phim truyền hình câm đáng cảnh báo duy nhất chắc hẳn rằng là Imjaeobtneun naleutbae (1932) của đạo diễn Lee Gyu-hwan[8].

Bộ phim truyền hình có tiếng trước tiên của điện ảnh Triều Tiên đc chế tạo năm 1935, đó là một chuyển thể khác của Xuân Hương truyện do Lee Myeong-woo đạo diễn[9]. Trong nửa cuối thập niên 1930, con số phim có tăng quay lại and nghệ sĩ điện ảnh mũi nhọn tiên phong vẫn là Na Woon-gyu, trước lúc bất ngờ qua đời năm 1937, ông đã cho Thành lập và hoạt động những bộ phim truyện đáng cảnh báo như Kanggeonneo maeul (1935) hay Oh Mong-nyeo (1937). Mặc dù thế tiến độ đó cũng không kéo dãn dài đc lâu khi sự kiểm soát điều hành của chính quyền trực thuộc nếu với những phim có tiếng còn cũng trở thành nóng bức hơn đối với những phim câm, từ thời điểm năm 1938 toàn bộ tổng thể những phim chế tạo tại Triều Tiên đều do người Nhật tiến hành triển khai and từ thời điểm năm 1942 sau khoản thời gian Cuộc chiến tranh thế gới thứ 2 bùng nổ, việc cần sử dụng tiếng Triều Tiên bị cấm tuyệt đối hoàn hảo trong điện ảnh[4].

Điện ảnh CHDCND Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

KoreaNfilm.svg

Do đặc biệt cô lập cao độ của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên chính vì thế thông báo về sự cải tiến và phát triển của nền điện ảnh nước này không nhiều đc thế gới biết tới. Hãng phim to nhất của CHDCND Triều Tiên là Xưởng phim truyền hình Triều Tiên với 1 trường quay rộng khoảng tầm 930.000 m² ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Những hãng phim to khác ở Triều Tiên có khả năng kể đến Xưởng phim dữ liệu Triều Tiên, Xưởng phim mùng 8 tháng hai and Xưởng phim Khoa học and giáo dục và đào tạo Triều Tiên (SEK Studio). Hãng SEK nhiều người biết đến là Vị trí chế tạo phim phim hoạt hình có rất chất lượng and giá nhân công rẻ, đó chính là hãng phim đã tiến hành triển khai những quá trình chế tạo cho các bộ phim truyện phim hoạt hình nhiều người biết đến của Walt Disney Pictures như Vua sư tử (The Lion King, 1994) and Pocahontas (1995). Năm 2005, SEK cũng là hãng phim Triều Tiên tiến hành triển khai Dự Án BĐS điện ảnh hợp tác và ký kết trước tiên của hai miền, đó là bộ phim truyện phim hoạt hình Thẩm Thanh Vương hậu (왕후 심청).

Thập niên 1940 and 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời hạn này website tài liệu điện ảnh IMDb đo lường đc 41 bộ phim truyện chế tạo tại Triều Tiên[10]. Hai trong những đó được chế tạo trong thời gian từ khi Triều Tiên đc giải phóng khỏi quân đội nước Nhật (năm 1945) đến khi Cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra (năm 1950), đó là Uri Geonseol (1946) and Non sông (내 고향, 1949). Trong thời hạn cuộc chiến tranh (1950-1953) có 5 bộ phim truyện đc chế tạo, phần đông tập trung chuyên sâu vào đề tài dậy sóng lòng yêu nước.

Sau thời điểm cuộc chiến tranh kết thúc, nền điện ảnh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đc phục sinh khá nhanh với các bộ phim truyện cuộc chiến tranh hoặc phản ánh công cuộc phục sinh non sông Triều Tiên bị hủy diệt.

Thập niên 1960 and 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1966 chỉ huy Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành chỉ ra học thuyết về tâm lý Chủ thể (Juche – 주체) trong thẩm mỹ, Từ đó những sản phẩm thực tế thẩm mỹ phải là các sản phẩm thực tế phương pháp mạng phản ánh chủ nghĩa thế gới trong công cuộc thiết kế và xây dựng non sông Triều Tiên[11]. Tâm lý này tiếp đến đã đc thiếu niên của Kim Nhật Thành là Kim Chính Nhật (lãnh tụ mai sau của Triều Tiên) chi tiết cụ thể hóa trong chuyên luận “Định hướng thẩm mỹ điện ảnh”[12].

Bộ phim truyền hình vượt trội nhất cho tâm lý thẩm mỹ này là Bể máu (피바다, 1969), đc chuyển thể từ tiểu thuyết kể về mẩu chuyện của 1 người đàn bà nông dân biến thành anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Nhật của những người Triều Tiên. Bộ phim truyền hình này tiếp đến đã đc chuyển thể thành nhiều mô hình thẩm mỹ khác ví như nhạc kịch hay vũ kịch. Một sản phẩm thực tế đáng cảnh báo khác là Đàn bà bán hoa (꽃파는 처녀, 1972) của Choe Ik-kyu (người trong tương lai là Bộ trưởng liên nghành Bộ Văn hóa truyền thống), bộ phim truyện này đã chiếm hữu Giải nổi trội tại Liên hoan tiệc tùng phim thế giới (International Film Festival) đợt thứ 18 and là một trong các những sản phẩm thực tế điện ảnh đc nghe biết nhiều nhất của Triều Tiên thập niên 1970.

Thập niên 1980 cho tới bây giờ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trong thời hạn 1980, những bộ phim truyện mang ý nghĩa tâm lý and tuyên truyền đc tinh giảm, không chỉ vậy là các sản phẩm thực tế có đề tài thân thiết với cuộc sống đời thường hơn. Rất có thể kể đến một chuyển thể tiếp theo sau của Xuân Hương truyện năm 1980 hay bộ phim truyện Hồng Cát Đồng (홍길동, 1986). Bộ phim truyền hình đáng cảnh báo nhất thập niên 1980 của điện ảnh Triều Tiên là một phim khoa học giả tưởng về một thú vật khổng lồ mang tên Pulgasari (불가사리, 1985), bộ phim truyện đó được tiến hành triển khai bởi Shin Sang-ok, một nhà điện ảnh không mấy tiếng tăm của Nước Hàn bị tóm gọn cóc sang Triều Tiên.

Trong thập niên 1990, IMDb chỉ đo lường đc 4 bộ phim truyện mà Triều Tiên đc chế tạo, trong những số ấy có bộ phim truyện truyền hình dài tập có tên Non sông and số phận (민족과 운명) đc tiến hành triển khai từ thời điểm năm 1992 đến năm 1999. Thập niên 2000 tận mắt chứng kiến các điều chỉnh theo phía cởi mở hơn của điện ảnh nước này khi lần trước tiên có bộ phim truyện phim hoạt hình Thẩm Thanh Vương hậu là mặt hàng hợp tác và ký kết của hai miền Nam – Bắc Triều. Năm 2006, lần trước tiên chứa một bộ phim truyện Triều Tiên đc xuất bán cho những nhà cung ứng phương Tây, đó là bộ phim truyện Nyeohaksaengeui Ilgi (한 녀학생의 일기)[13].

Điện ảnh Nước Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

KoreaSfilm.svg

Quá trình dựng nên: 1945-1955[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng theo với sự đầu hàng của quân đội nước Nhật năm 1945, nền điện ảnh của Nước Hàn cũng lúc đầu đc thiết kế và xây dựng với bộ phim truyện Jayu Manse (자유만세, 1946) của đạo diễn Choi In-gyu. Mặc dù thế công nghiệp điện ảnh Nước Hàn cải tiến và phát triển khá lờ đờ do chịu ảnh hưởng của cuộc chiến tranh, từ thời điểm năm 1950 đến năm 1953 mỗi năm chỉ có chừng 5 hoặc 6 bộ phim truyện đc chế tạo, thêm vào chỗ này các bộ phim truyện đc tàng trữ năm trước đây cũng lại bị cuộc chiến tranh tiêu diệt không ít.

Quá trình hoàng kim: 1955-1962[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thời điểm hiệp định đình chiến đc ký cam kết năm 1953, người cai trị đất nước Nước Hàn Lý Thừa Vãn đã đóng góp phần phục sinh nền điện ảnh nước này bằng sự việc miễn thuế cho mọi bộ phim truyện chế tạo nội địa. Tiến độ phục hồi and cải tiến và phát triển đó được ghi lại bằng một chuyển thể điện ảnh khác của Xuân Hương truyện do Lee Kyu-hwan tiến hành triển khai năm 1955. Bộ phim truyền hình đó đã chiến thắng vang dội khi chỉ trong tầm 2 tháng nó đã lôi cuốn 10% dân sinh Seoul (khoảng tầm trên 200.000 người) đến rạp, đóng góp phần tạo động lực thúc đẩy trẻ trung và tràn đầy năng lượng công nghiệp điện ảnh Nước Hàn[14].

Chất lượng and con số những bộ phim truyện Nước Hàn đc cải tổ mau lẹ, năm 1956 bộ phim truyện Sijibganeun nal (시집가는 날) của Lee Byeong-il đã lúc đầu đem về cho nước này các phần thưởng thế giới. Đến năm 1959 sản lượng phim của công nghiệp điện ảnh Nước Hàn đã lên đến mức 111 phim 1 năm, tức là gấp hơn 20 lần sản lượng bình quân 10 năm kia đó[15]. Năm 1961, điện ảnh Nước Hàn có hai sản phẩm thực tế loại giỏi là Hanyeo (하녀) của Kim Ki-young and Obaltan (오발탄) của Yu Hyun-mok, cả 2 đều đc nhận định và đánh giá là phía trong số các bộ phim truyện hay nhất trong lịch sử vẻ vang điện ảnh nước này[16].

Rủi ro: 1962-1979[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hoàng kim của điện ảnh Nước Hàn ngã ngũ sau khoản thời gian Bak Jeonghui lên nắm chính quyền trực thuộc năm 1962. Cơ quan chính phủ Bak Jeonghui đã ngay lập tức tăng sự kiểm soát điều hành của Chính phủ nếu với công nghiệp điện ảnh. Theo Luật điện ảnh năm 1963, 1 loạt những phương án kiểm duyệt hà khắc đc dùng nếu với con số and content những phim chế tạo nội địa. Chỉ trong tầm một năm, con số phim chế tạo giảm từ 71 xuống chỉ còn 16.

Sự kiểm soát điều hành của Chính phủ lên tới mức đỉnh điểm vào giữa and cuối thập niên 1970 đã tiêu diệt gần như là toàn bộ tổng thể các trị giá thẩm mỹ điện ảnh Nước Hàn thiết kế và xây dựng đc trong trong thời hạn trước đây. Thêm vào chỗ này điện ảnh cũng cần phải chịu sự tuyên chiến và cạnh tranh kinh khủng của 1 mô hình vui chơi mới, truyền hình, vốn cải tiến và phát triển bất ngờ từ lúc cuối thập niên 1960. Năm 1979, lượng người theo dõi đến rạp phim giảm chỉ từ 1/3 đối với 10 năm kia đó (65 triệu lượt người quan sát năm 1979 đối với 173 triệu lượt người quan sát năm 1969[16]).

Hồi phục: 1980-1999[sửa | sửa mã nguồn]

Sau các dịch chuyển liên tục đầu trong thời hạn 1980 gồm vụ ám sát Người cai trị đất nước Bak Jeonghui, cuộc Thay máu chính quyền ngày 12 tháng 12 and vụ thảm sát Gwangju, Nước Hàn lúc đầu quy trình dân chủ hóa cuộc sống chính trị and thế gới, trong những số ấy có công nghiệp điện ảnh. Dù rằng trong thập niên này, số lượng người đến rạp vẫn cực thấp nhưng điện ảnh đã dần dần có biểu hiện phục sinh khi cơ quan chính phủ thả lỏng sự kiểm soát điều hành nếu với ngành công nghiện điện ảnh. Điện ảnh Nước Hàn cũng lúc đầu đc thế giới biết tới, sau khoản thời gian bộ phim truyện Mandala (만다라’, 1981) của đạo diễn Im Kwon-taek giành Phần thưởng to tại Liên hoan tiệc tùng phim Hawaii, đó cũng là bộ phim truyện Nước Hàn trước tiên nhập cuộc những lễ hội phim to ở châu Âu[17].

Năm 1988, người cai trị đất nước Roh Tae-woo chính thức gỡ bỏ sự kiểm duyệt content chính trị cho điện ảnh Nước Hàn, hỗ trợ cho những đạo diễn có khả năng khai quật những đề tài thế gới gai góc and thân thiết với cuộc sống đời thường hơn. Mặc dù thế Thị Trường phim Nước Hàn liên tiếp đạt lệch giá thấp mà lại bị những bộ phim truyện Hollywood and Hồng Kông kẻ thống trị, năm 1993 chỉ có 16% số phim chiếu rạp là phim trong nước.

Cải tiến vượt bậc and cải tiến và phát triển trẻ trung và tràn đầy năng lượng: Từ thời điểm năm 1999 đến lúc này[sửa | sửa mã nguồn]

Bước bứt phá của nền công nghiệp điện ảnh Nước Hàn đến năm 1999 với bộ phim truyện kinh điển Shiri (쉬리), bước phương pháp mạng về kinh doanh thương mại hóa điện ảnh. Tuy bộ phim truyện trước tiên do TNHH Tư Nhân (hãng Hãng Samsung) hỗ trợ vốn đã đc tiến hành triển khai từ thời điểm năm 1992 nhưng phải chờ đến Shiri điện ảnh Nước Hàn mới sự thật tìm kiếm được hướng đi mới lôi cuốn người theo dõi. Đó là các sản phẩm thực tế giá thành to (giá thành Shiri khoảng tầm 8 triệu $, to nhất trong lịch sử vẻ vang điện ảnh Nước Hàn cho tới thời điểm này), đề tài lôi kéo (Shiri đề cập đến xung đột hai miền Nam – Bắc Triều trong cuộc rượt đuổi giữa những điệp viên Triều Tiên ở Seoul với các sĩ quan tình báo Nước Hàn) and sự góp mặt của các ngôi sao sáng điện ảnh (Shiri chứa một giàn diễn viên danh xưng gồm Han Suk-kyu, Choi Min-sik, Kim Yoon-jin and Tuy vậy Kang-ho). Với công thức như thế, Shiri đã chiến thắng vang dội về mặt kinh tế khi bán tốt tới 2 triệu vé chỉ tính riêng ở Seoul and biến thành bộ phim truyện nhiều khách nhất lịch sử vẻ vang điện ảnh Nước Hàn, vượt mặt những bộ phim truyện kinh điển nhiều người biết đến của Hollywood như Titanic hay Ma trận (The Matrix). Chiến thắng của Shiri đc thông liền ngay trong số năm tiếp theo sau bằng các bộ phim truyện kinh điển về đề tài xung đột Nam-Bắc khác ví như Xung quanh vị trí bảo mật an ninh chung (2000) hay Cờ Thái cực giương cao (태극기, 2004).

Một bước đi nữa về chuyên mục của điện ảnh Nước Hàn là bộ phim truyện Thiếu nữ ngổ ngáo (엽기적인 그녀, 2001), một bộ phim truyện cảm tình – hài (rom-com) không chỉ là nhiều khách ở Nước Hàn mà còn đc ưa thích ở nhiều nước châu Á. Bộ phim truyền hình đó đã thuở đầu cho phong trào phim cảm tình hài vốn là thế mạnh mẽ của điện ảnh Nước Hàn trong các việc thâm nhập những Thị Trường điện ảnh khác (vốn không mặn mà với đề tài xung đột Nam – Bắc Triều). Các bộ phim truyện cảm tình của Nước Hàn cũng lúc đầu đc Hollywood cảnh báo and một vài phim đã đc mua bản quyền để triển khai lại (remake), trong những này bộ phim truyện Il Mare (시월애, 2000) đã được thiết kế lại thành một sản phẩm thực tế Hollywood có tựa đề Căn nhà bên hồ (The Lake House, 2006) với việc góp mặt của 2 ngôi sao sáng là Sandra Bullock and Keanu Reeves.

Không chỉ có chiến thắng về mặt kinh tế, những bộ phim truyện Nước Hàn còn lúc đầu chiến thắng tại những lễ hội phim to trên thế gới. Năm 2002 bộ phim truyện Oasis (오아시스) của đạo diễn Lee Chang-dong (trong tương lai biến thành Bộ trưởng liên nghành Bộ Văn hóa truyền thống and Phượt Nước Hàn) đã đạt giải hai tại Liên hoan tiệc tùng phim Venezia. Cũng tại lễ hội phim này, bộ phim truyện 3-Iron (빈집, 2004) của đạo diễn Kim Ki Duk đã đạt giải Sư tử bạc. Kim Ki Duk là đạo diễn phim thẩm mỹ nhiều người biết đến của Nước Hàn, với bộ phim truyện Samaria (사마리아, 2004) ông đã đạt giải Đạo diễn loại giỏi nhất tại Liên hoan tiệc tùng phim Berlin. Bộ phim truyền hình giành giải cao nhất trong những những lễ hội phim cho tới bây giờ chắc hẳn rằng là Oldboy (올드보이, 2003) của đạo diễn Park Chan-wook, sản phẩm thực tế này đã chiếm hữu Phần thưởng to (Grand Prix) tại Liên hoan tiệc tùng phim Cannes, tức là chỉ xếp sau bộ phim truyện đoạt giải Cành cọ vàng năm đó là Fahrenheit 9/11. Trong Liên hoan tiệc tùng phim Cannes trong năm 2007, cô diễn viên Nước Hàn Jeon Do-yeon đã và đang đạt giải Cô diễn viên loại giỏi nhất (Prix d’interprétation féminine).

Những bộ phim truyện nhiều khách nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim truyện đó được xếp theo con số người theo dõi đến rạp chứ không áp theo tổng lệch giá. List đc update đến tháng tám trong năm 2007[18][19]:

Tên phim Năm ban hành Lượng người theo dõi
1 괴물
(Quái thú sông Hàn)
2006 13.019.740
2 왕의 남자
(Hoàng đế and chàng hề)
2005 12.302.831
3 태극기 휘날리며
(Cờ Thái cực giương cao)
2004 11.746.135
4 실미도
(Silmido)
2003 11.074.000
5 친구
(Friend)
2001 8.134.500
6 웰컴 투 동막골
(Welcome Lớn Dongmakgol)
2005 8.008.622
7 D-War 2007 6.902.034
8 타짜
(Tazza: The High Rollers)
2006 6.847.777
9 미녀는 괴로워
(Vẻ đẹp ngàn cân)
2006 6.619.498
10 쉬리
(Shiri)
1999 6.210.000
11 투사부일체
(My Boss, My Teacher)
2006 6.105.431
12 공동경비구역 JSA
(Xung quanh vị trí bảo mật an ninh chung)
2000 5.830.000
13 가문의 위기
(Marrying The Mafia 2)
2005 5.635.266
14 화려한 휴가
(May 18)
2007 5.609.005
15 가문의 영광
(Marrying the Mafia)
2002 5.021.001
16 말아톤
(Marathon)
2005 5.148.022
17 살인의 추억
(‘Memories of Murder)
2003 5.101.645
18 엽기적인 그녀
(Thiếu nữ ngổ ngáo)
2001 4.852.845
19 동갑내기 과외하기
(Đứa bạn gia sư)
2003 4.809.871
20 신라의 달밤
(Kick The Moon
2001 4.353.800
21 조폭 마누라
(Vk tôi là Găng-tơ)
2001 4.180.900
22 태풍
(Typhoon)
2005 4.094.395
23 집으로
(The Way trang chủ)
2002 4.091.000
24 색즉시공
(Tình dục là chuyện nhỏ dại)
2002 4.089.900
25 공공의 적 2
(Another Public Enemy)
2005 3.911.356

Những nhân vật nhiều người biết đến[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: List diễn viên điện ảnh CHDCND Triều Tiên

Bài chi tiết: List diễn viên điện ảnh Nước Hàn

100px Jang Dong gun standing

Diễn viên Jang Dong-gun

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn hóa truyền thống Triều Tiên
  • Hàn lưu
  • K-Pop

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David E. James and Kyung Hyun Kim, Im Kwon-Taek: The Making of a Korean National Cinema, Wayne State University Press, 2002, ISBN 0-8143-2869-5]
  2. ^ aăLatrobe.edu.au
  3. ^

    James, David E.; Kyung Hyun Kim (editors) điều chỉnh (2002). Im Kwon-Taek: The Making of a Korean National Cinema. Wayne State University Press. tr. 267. ISBN 0-8143-2869-5.Điều hành CS1: văn bản dư: list điều chỉnh viên (kết nối)

  4. ^ aăJames Wade, The Cinema in Korea: A Robust Invalid, Korean Dance, Theater & Cinema, 1983
  5. ^ Darcy Paquet, A Short History of Korean Film
  6. ^ Lee Young-Il, The Establishment of a National Cinema Under Colonialism: The History of Early Korean Cinema
  7. ^ Lee Young-il, The History of Korean Cinema, Motion Picture Promotion Corporation, 1988, ISBN 89-88095-12-X
  8. ^ IMDb
  9. ^ The story of Chun-hyang Tàng trữ 2007-09-27 tại Wayback Machine, Koreafilm.org
  10. ^ “Điện ảnh CHDCND Triều Tiên, IMDb”. Bản gốc tàng trữ ngày 23 tháng chín năm 2008. Truy vấn ngày 2 tháng ba năm 2011.
  11. ^ Jane Portal, Art Under Control in North Korea, Reaktion Books Ltd., London, 2005, ISBN 1-86189-236-5
  12. ^ Thingsasian.com
  13. ^ Guardian.co.uk
  14. ^ “Asia.si.edu”. Bản gốc tàng trữ ngày 7 tháng tám năm 2008. Truy vấn ngày 2 tháng ba năm 2011.
  15. ^ Pusanweb.com
  16. ^ aăMin Eungjun, Joo Jinsook and Kwak HanJu, Korean Film: History, Resistance, và Democratic Imagination, Westport, Connecticut: Praeger Publishers, 2003, ISBN 0-275-95811-6
  17. ^ Adam Hartzell, A Review of Im Kwon-Taek: The Making of a Korean National Cinema, www.koreanfilm.org
  18. ^ Koreanfilm.org
  19. ^ Film 2.0
  • Thông báo Điện ảnh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 1 2
  • Điện ảnh trong mơ của CHDCND Triều Tiên
  • KOFIC – Website của Cộng đồng phim Nước Hàn
  • Koreanfilm.org – Những bài trình làng phim, Thông tin điện ảnh, thông báo về diễn viên của điện ảnh Triều Tiên
  • LoveAsianFilm.com – Trình làng phim and DVD điện ảnh châu Á, trong những số ấy có Nước Hàn
  • KoreanMovieDB.COM Tàng trữ 2018-08-05 tại Wayback Machine – Website tài liệu điện ảnh Nước Hàn

Bài Viết: Điện ảnh Triều Tiên là gì? Chi tiết về Điện ảnh Triều Tiên mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  5+ video huong dan cai game - cài game tải game cho 2ds 3ds new 3ds...hướng dẫn cài game xoá game cho máy hack

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.