Dani Alves là gì? Chi tiết về Dani Alves mới nhất 2022

Dani Alves
07 07 2019 Final da Copa América 2019 (48226649586) (cropped).jpg

Dani Alves nhận giải cầu thủ loại giỏi nhất Copa América 2019

Thông báo cá thể
Tên rất đầy đủ Daniel Alves da Silva
Ngày sinh 6 tháng năm, 1983 (38 tuổi)
Địa điểm sinh Juazeiro, Brasil
Độ cao 1,73 m (5 ft 8 in)[1]
Chỗ đứng Hậu vệ
Thông báo câu lạc bộ

Đội ngày này

São Paulo
Số áo 10
Công danh cầu thủ trẻ
Juazeiro
Công danh cầu thủ chuyên nghiệp và bài bản*
Năm Đội ST (BT)
2001–2002 Bahia 25 (2)
2002–2008 Sevilla 175 (11)
2008–2016 Barcelona 247 (14)
2016–2017 Juventus 19 (2)
2017–2019 Paris Saint-Germain 48 (2)
2019– São Paulo 70 (8)
Đội tuyển tổ quốc
2006– Brasil 118 (8)
* Số trận ra sân and số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp và bài bản chỉ được xem cho giải tổ quốc and đúng chuẩn tính đến 21 tháng năm năm 2022
‡ Số lần khoác áo đội tuyển tổ quốc and số bàn thắng đúng chuẩn tính đến 13 tháng 10 năm 2018

Daniel Alves da Silva (sinh ngày 6 tháng năm năm 1983 ở Bahia, Brasil) thường đc biết tới với cái brand name Dani Alves, là một hậu vệ người Brasil hiện chơi cho câu lạc bộ São Paulo của Brasil and là Đội trưởng đội tuyển bóng đá tổ quốc Brazil. Trước lúc du nhập gã khổng lồ xứ Catalan, Alves có 6 mùa giải thắng lợi cùng Sevilla FC, vô địch 2 cúp UEFA and Copa del Rey cùng đội bóng xứ Andalusia. Anh du nhập Barcelona với mức chi phí 34 triệu euro and 6 triệu thêm lần nữa, biến thành hậu vệ đắt giá nhất vào khoảng thời gian 2008 , and giành cú ăn ba ngay trong đợt giải thứ nhất cùng đội bóng. Tới nay, anh là cầu thủ giành nhiều thương hiệu nhất còn tranh tài.

Công danh câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Dani Alves đc Bahia cho Sevilla FC mượn vào mùa giải 2002-03, sau khoản thời gian Dani Alves tham gia Giải trẻ xã hội and gây điểm khác biệt. Trong tháng 6 năm 2006, Sevilla đồng ý chấp thuận để Alves du nhập Liverpool xong không thành do 2 đội không đã có được đồng thuận về mức chi phí. Trong tháng 12 năm 2006, anh ra quyết định gia hạn HĐ với Sevilla tới thời điểm năm 2012, and có mùa giải 2006-07 cực thắng lợi với chức vô địch cúp UEFA. Vào mùa nắng 2007, Alves đc theo đuổi một phương thức gắt gao bởi Chelsea, and chính anh cũng cho thấy muốn rời Sevilla. Tuy nhiên ban chỉ huy Sevilla đã khước từ 3 mức chi phí mà Chelsea bỏ ra.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng hai năm 2008, ở đầu cuối Alves cũng rời Sevilla để chuyển tới gã khổng lồ FC Barcelona với mức chi phí kỉ lục cho 1 hậu vệ vào mức 34 triệu euro. Ngay lập tức, Alves chứa một chỗ đứng quan trọng trong đội hình Barca and biến thành chỗ đứng không còn thay thế sửa chữa tại phần hậu vệ phải. Anh có trận giới thiệu trong màu áo Barca ở trận gặp Wisła Kraków ở vòng sơ loại thứ 3 cúp C1. Mặc mặc dù có một mùa giải rất thắng lợi tuy nhiên anh đang không đc dự trận chung cuộc cúp C1 khi Barca thắng 2-0 trước Manchester United.

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng sáu năm nhâm thìn, Dani Alves đã thông tin sẽ rời CLB Barcelona để chuyển hẳn sang Juventus sau Copa América Centenario 2016. Nguyên do của anh bỏ ra rất đột ngột, là “muốn search thêm thách thức mới cuối công danh sự nghiệp, sau khoản thời gian cùng Barca nắm bắt tương đối nhiều thương hiệu một phương thức dễ dàng và đơn giản đến nhàm chán”.

Paris Saint-Germain[sửa | sửa mã nguồn]

Sau mùa giải 2016-17 chơi cho Juventus, Alves chuyển hẳn sang Paris Saint-Germain trong hai năm.

São Paulo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày một tháng tám năm 2019, São Paulo FC thông tin họ đã ký kết HĐ với Dani Alves có thời điểm đến tháng 12 năm 2022.[2]

Công danh tranh tài nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Dani Alves có trận giới thiệu trong màu áo đội tuyển bóng đá tổ quốc Brazil vào trong ngày 7 tháng 10 năm 2006 trong trận giao hữu gặp đội bóng Al-Kuwait Selection. Anh cùng đội tuyển Brazil vô địch Copa America 2007. Dù rằng là hậu vệ đắt nhất trong lịch sử dân tộc, tuy nhiên Alves không giành được một chỗ đứng kiên cố ở đội tuyển tổ quốc khi luôn phải cạnh trạnh cùng Maicon cho 1 chỗ đứng chính thức. Dani Alves vào sân từ ghế dự bị trong trận bán kết FIFA Confederations Cup 2009 gặp đội tuyển bóng đá tổ quốc Nam Phi. Anh chính là người ghi bàn ra quyết định xuất phát điểm từ 1 cú sút phạt cực mạnh ở phút 88, đem về thắng lợi 1-0 cho Brazil.

Đo đạc công danh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 21 tháng năm năm 2022.[3]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp tổ quốc[4] Cúp liên đoàn Âu Lục Khác Tổng số
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Bahia 2001 6 6 0
2002 19 2 6 2 25 4
Tổng số 25 2 6 2 31 4
Sevilla 2002–03 10 1 11 0
2003–04 29 1 7 1 36 2
2004–05 33 2 5 9 47 2
2005–06 36 3 2 14 52 3
2006–07 34 3 8 14 2 1 57 5
2007–08 33 2 3 8 2 3 47 4
Tổng số 175 11 26 1 45 4 4 250 16
Barcelona 2008–09 34 5 8 12 54 5
2009–10 29 3 3 11 5 48 3
2010–11 35 2 5 12 2 2 54 4
2011–12 33 2 5 1 10 4 52 3
2012–13 30 6 10 1 1 47 1
2013–14 27 2 5 8 2 2 42 4
2014–15 30 5 11 46 0
2015–16 29 6 1 8 5} 48 1
Tổng số 247 14 43 2 82 5 19 391 21
Juventus 2016–17 19 2 2 1 12 3 33 6
Paris Saint-Germain 2017–18 25 1 4 3 1 8 2 1 1 41 5
2018–19 23 1 4 2 2 3 32 3
Tổng số 48 2 8 2 5 1 11 2 1 1 73 8
São Paulo 2019 20 2 20 2
2020 30 1 6 6 2 11 4 53 7
2022 4 9 1 13 1
Tổng số 50 3 6 10 2 20 5 86 10
Tổng số công danh sự nghiệp 564 34 91 8 6 2 160 15 50 7 871 66

Công danh nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 13 tháng 10 năm 2019.[5][6][7]
Đội tuyển tổ quốc Năm Trận Bàn
Brazil 2006 1 0
2007 12 1
2008 5 0
2009 14 2
2010 12 2
2011 10 0
2012 5 0
2013 13 0
2014 7 1
2015 8 0
2016 12 1
2017 6 0
2018 2 0
2019 10 1
Tổng số 118 8

Bàn thắng nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Khu vực Địch thủ Bàn thắng Hiệu quả Giải đấu
1 15 tháng bảy trong năm 2007 Sân hoạt động José Pachencho Romero, Maracaibo, Venezuela 23px Flag of Argentina.svg Argentina 3–0 3–0 Copa América 2007
2 6 tháng sáu năm 2009 Sân hoạt động Centenario, Montevideo, Uruguay 23px Flag of Uruguay.svg Uruguay 1–0 4–0 Vòng sơ loại World Cup 2010
3 25 tháng sáu năm 2009 Sân hoạt động Ellis Park, Johannesburg, Nam Phi 23px Flag of South Africa.svg Nam Phi 1–0 1–0 Confed Cup 2009
4 7 tháng 10 năm 2010 Sân hoạt động Zayed Sports City, Abu Dhabi, UAE 23px Flag of Iran.svg Iran 1–0 3–0 Giao hữu
5 11 tháng 10 năm 2010 Sân hoạt động Pride Park, Derby, Anh 23px Flag of Ukraine.svg Ukraina 1–0 2–0 Giao hữu
6 3 tháng sáu năm 2014 Sân hoạt động Serra Dourada, Goiás, Brasil 23px Flag of Panama.svg Panama 2–0 4–0 Giao hữu
7 29 tháng ba năm nhâm thìn Sân hoạt động Defensores del Chaco, Asunción, Paraguay 23px Flag of Paraguay.svg Paraguay 2–2 2–2 Vòng sơ loại World Cup 2018
8 22 tháng sáu năm 2019 Arena Corinthians, São Paulo, Brasil 23px Flag of Peru %28state%29.svg Peru 4–0 5–0 Copa América 2019

Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bahia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nordeste Championship: (2) 2001, 2002
  • Bahia State League: (1) 2001

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA Cup: (2) 2005–06, 2006–07,
  • Siêu cúp châu Âu: (1) 2006
  • Cúp Hoàng đế Tây Ban Nha: (2) 2006–07
  • Siêu cúp TBN: (1) 2007

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

  • La Liga: (6) 2008–2009, 2009-2010, 2010-2011, 2012-2013, 2014-2015, 2015-2016.
  • Cúp Hoàng đế Tây Ban Nha: (4) 2008–2009, 2011-2012, 2014-2015, 2015-2016.
  • Siêu cúp Tây Ban Nha: (5) 2009, 2010, 2011, 2013, 2016.
  • UEFA Champions League: (3) 2008–09, 2010-2011, 2014-2015.
  • Siêu cúp châu Âu: (3) 2009, 2011, 2015.
  • Giải vô địch bóng đá xã hội những câu lạc bộ: (3) 2009, 2011, 2015.

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

  • Seria A: (1) 2016-2017
  • Coppa Italia: (1) 2016–2018

Paris Saint-Germain[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ligue 1: (2) 2017-2018, 2018-2019
  • Cúp bóng đá Pháp: (1) 2017-2018
  • Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp: (1) 2017-2018
  • Siêu cúp bóng đá Pháp: (2) 2017, 2018

Brasil[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải trẻ xã hội: 2003
  • Copa América: 2007, 2019
  • Cúp Liên đoàn những lục địa: 2009, 2013

Cá thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ loại giỏi nhất UEFA Cup: 2006
  • Cầu thủ loại giỏi nhất trận Siêu Cúp châu Âu: 2006
  • Cầu thủ loại giỏi nhất Copa América: 2019
  • Đội hình của năm: 2007, 2009
  • Hậu vệ loại giỏi nhất: 2008-09 (LFP)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Daniel Alves da Silva”. F.C. Barcelona. Truy vấn ngày 7 tháng một năm 2011.[liên kết hỏng]

  2. ^ Leonan, Érico (ngày một tháng tám năm 2019). “Bem-vindo à sua casa, Dani Alves” [Welcome home, Dani Alves]. São Paulo FC. Truy vấn ngày một tháng tám năm 2019.
  3. ^ “Daniel Alves”. ESPN Soccernet. Truy vấn ngày 24 tháng bốn năm 2010.
  4. ^ Gồm có Copa do Brasil and Copa del Rey.
  5. ^ “Seleção Brasileira (Brazilian National Team) 2006–2007”. RSSSF Brazil. Truy vấn ngày 7 tháng một năm 2011.
  6. ^ “Seleção Brasileira (Brazilian National Team) 2008–2009”. RSSSF Brazil. Truy vấn ngày 7 tháng một năm 2011.
  7. ^ Dani Alves tại National-Football-Teams.com

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Daniel Alves trên Twitter Sửa dữ liệu tại Wikidata
  • FC Barcelona
  • Dani Alves lucirá el dorsal ’22’ como homenaje a Abidal (tiếng Tây Ban Nha)
  • Dani Alves tại BDFutbol
  • Dani Alves tại Soccerbase Sửa dữ liệu tại Wikidata
  • Dani Alves tại Soccerway
  • Dani Alves tại National-Football-Teams.com
  • Dani Alves – Thành tích tranh tài FIFA
  • Dani Alves – Thành tích tranh tài tại UEFA

Bài Viết: Dani Alves là gì? Chi tiết về Dani Alves mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Lôi Thiên Đại Tráng là gì? Chi tiết về Lôi Thiên Đại Tráng mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.