Courageous (lớp tàu chiến-tuần dương) là gì? Chi tiết về Courageous (lớp tàu chiến-tuần dương) mới nhất 2022

HMS Courageous WWI.jpg

Courageous như 1 tàu chiến-tuần dương trong Cuộc chiến tranh Xã hội thứ nhất

Khái quát về lớp tàu
Bên cần sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Thủy quân Cung điện hoàng gia Anh
Lớp trước: lớp Renown
Lớp sau: lớp Admiral
Lớp con: Furious
Chi phí: 2.038.225 Bảng Anh (Courageous)
Thời điểm đóng: 1915–1917
Thời điểm hoạt động và sinh hoạt: 1916–1944
Dự định: 3
Hoàn tất: 3
Bị mất: 2
Tháo dỡ: 1
Nổi trội khái quát (Courageous)
Kiểu Tàu tuần dương to nhẹ/Tàu chiến-tuần dương
Trọng lực choán nước danh sách error: <br /> danh sách (help)
19.180 tấn Anh (19.488 t) (chuẩn mức)
22.560 tấn Anh (22.922 t) (đầy tải)
Độ dài 786 ft 9 in (239,8 m)
Sườn ngang 81 ft (24,7 m)
Mớn nước 25 ft 10 in (7,9 m)
Động cơ đẩy danh sách error: <br /> danh sách (help)
4 × turbine hơi nước
18 × nồi hơi ống nước bé dại Yarrow
4 × trục
hiệu suất 90.000 shp (67.000 kW)
Vận tốc 32 hải lý trên giờ (59 km/h; 37 mph)
Tầm xa 6.000 nmi (11.110 km; 6.900 dặm) ở vận tốc 20 hải lý trên giờ (37 km/h; 23 mph)
Tầm hoạt động và sinh hoạt 3.160 tấn Anh (3.211 t) dầu
Thủy thủ đoàn
khá đầy đủ
842 sĩ quan and thủy thủ
Vũ trang

danh sách error: <br /> danh sách (help)
4 × pháo BL 15 inch (381 mm) Mark I (2×2);
18 × pháo BL 4 inch (102 mm) Mark IX (6×3);

2 × pháo quận 3 inch (76 mm) phòng không (2×1);

2 × ống phóng ngư lôi 21 in (533 mm) ngầm (2×1)

Bọc giáp

danh sách error: <br /> danh sách (help)
đai giáp: 2–3 in (51–76 mm);
sàn tàu: 0,75–3 in (19–76 mm);
tháp pháo: 7–9 in (178–229 mm);
bệ tháp pháo: 3–7 in (76–178 mm);
tháp lãnh đạo: 10 in (254 mm);

vách ngăn chống ngư lôi: 1–1,5 in (25–38 mm)

Lớp tàu chiến-tuần dương Courageous gồm có ba chiếc tàu chiến-tuần dương đc nghe biết như là các “tàu tuần dương hạng nhẹ to” đc chế làm cho Thủy quân Cung điện hoàng gia Anh Quốc. Trên danh nghĩa được thiết kế với cho Dự Án BĐS Baltic của Đô đốc Lord John Fisher, vốn ý định giúp sức cho sự đổ xô đội quân lên bãi biển Baltic của Đức. Những cái thuộc lớp này sẽ tương đối nhanh nhưng có vỏ giáp mỏng dính and chỉ mang vài khẩu súng hạng nặng, có tầm nước rất cạn được cho phép hoạt động và sinh hoạt tại vùng nước nông của biển Baltic, cùng theo đó cũng phản ảnh các tay nghề đạt được trong cuộc chiến tranh trước đây. Để sở hữu vận tốc tối đa, lớp Courageous là các tàu chiến nòng cốt thứ nhất của Thủy quân Cung điện hoàng gia cần sử dụng turbine hơi nước and nồi hơi ống nước bé dại.

Hai chiếc thứ nhất trong lớp Courageous and Glorious đc đặt ra hoạt động và sinh hoạt vào thời điểm năm 1917 and thông qua thời khắc còn sót lại của Cuộc chiến tranh Xã hội thứ nhất tuần tra tại Bắc Hải. Chúng nhập cuộc trận Heligoland Bight thứ 2 trong tháng 11 năm 1917 and đã có rất nhiều mặt khi Hạm chiến Biển khơi Đức đầu hàng 1 năm tiếp nối. Con tàu nữa chị em Furious được thiết kế với với cùng một cặp pháo 18 inch (457 mm), cỡ nòng pháo to nhất từng đc trang bị cho tàu chiến của Thủy quân Cung điện hoàng gia, nhưng đc cải biến trong lúc sản xuất để sở hữu một sàn cất cánh and hầm chứa máy bay thay cho tháp pháo and hầm đạn trước mũi. Sau vài chuyến tuần tra tại Bắc Hải, tháp pháo phía đằng sau cũng rất được tháo dỡ, bổ sung cập nhật thêm 1 sàn cất-hạ cánh. Máy bay của chính bản thân nó đã triển khai cuộc không kích Tondern trong tháng 7 năm 1918 khi các máy bay Sopwith Camel tiến công bãi đậu khí cầu Zeppelin ở Tondern.

Cả ba chiếc đều đc cho tạm dừng hoạt động sau thời điểm cuộc chiến tranh kết thúc, rồi đc tái cấu tạo thành các tàu trường bay vào trong thời điểm 1920. Courageous and Glorious bị đánh chìm vào đầu Cuộc chiến tranh Xã hội thứ 2, còn Furious sinh tồn qua trận chiến tranh and bị tháo dỡ vào thời điểm năm 1948.

Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

220px Glorious class cruiser diagram Brasseys 1923

Sơ đồ mạn phải and sàn tàu lớp Courageous như đc minh họa trong Niên giám Thủy quân Brassey năm 1923

Hai chiếc thứ nhất trong lớp tàu chiến-tuần dương Courageous được thiết kế với vào thời điểm năm 1915 để thỏa mãn nhu cầu các kiến nghị do Thứ trưởng Thủy quân Anh, Đô đốc Lord John Fisher, nêu ra với ý tưởng sáng tạo của Chiến lược Baltic trong đầu. Chúng phải đủ to để bảo trì vận tốc cao lúc thời tiết xấu, có dàn hỏa lực mạnh and vận tốc đạt ít nhất 32 kn (59 km/h), được cho phép vượt hơn tàu tuần dương hạng nhẹ đối thủ cạnh tranh. Vỏ giáp đảm bảo của chúng khá nhẹ so với cùng một tàu tuần dương, với lớp giáp dày 3 inch (76 mm) giữa mực nước and sàn tàu trước, bầu chống ngư lôi giữa tàu and mạng lưới hệ thống động lực thu xếp càng sâu bên phía trong càng rất tốt, đc đảm bảo bởi ba vách ngăn chống ngư lôi. Đặc tính tầm nước nông có độ quan trọng tuyệt vời and những vấn đề khác phải chịu ràng buộc vào vấn đề này. Vào trong ngày 23 tháng hai năm 1915, Sir Eustace Tennyson-d’Eyncourt, GĐ Sản xuất Thủy quân (DNC: Director of Naval Construction), trả lời bằng một phiên bản thu bé dại của lớp tàu chiến-tuần dương Renown với thấp hơn một tháp pháo and tiết giảm vỏ giáp đảm bảo. Bộ trưởng liên nghành Kinh tế Anh vào thời điểm năm 1915 đã ngăn cấm việc chế tăng lên mọi con tàu to hơn tàu tuần dương hạng nhẹ, nên Fisher gọi các con tàu này là tàu tuần dương hạng nhẹ to để hạn chế tránh sự ngăn trở. Còn nếu như không có sự số lượng giới hạn này, các con tàu sẽ tiến hành sản xuất tựa như các phiên bản thay mới của lớp Renown dẫn trước. Hai chiếc đã đc đặt lườn vài ba tháng tiếp nối trong sự bí ẩn, nên nội bộ Thủy quân Cung điện hoàng gia gọi chúng là “các tàu tuần dương hush-hush của Lord Fisher”, and thi công kỳ quặc của chúng cũng trở thành gán tên lóng là lớp Outrageous.[1]

Con tàu nữa chị em Furious được thiết kế với vài ba tháng tiếp nối nhằm mục tiêu thỏa mãn nhu cầu kiến nghị trang bị hai khẩu súng BL 18 in (460 mm) Mark I, kiểu pháo có cỡ nòng to nhất từng đc trang bị cho tàu chiến của Thủy quân Cung điện hoàng gia, trên các tháp pháo nòng đơn với kĩ năng hoán chuyển lâu đài pháo 15 inch (381 mm) nòng đôi nếu mà kiểu pháo 18 inch không thỏa mãn nhu cầu kiến nghị. Những Chuyên Viên hải pháo phê phán ra quyết định này vì thời khắc kéo dãn giữa những loạt đạn pháo tạo cho việc thám thính hiệu chỉnh cũng biến thành vô dụng, tụt dốc mạnh độ bắn and cho nên làm giảm Tỷ Lệ bắn trúng. Dàn pháo hạng hai đc đổi mới lên kiểu pháo BL 5,5 in (140 mm) Mark I thay thế vì cỡ pháo 4 inch (102 mm) đc cần sử dụng trên hai chiếc trước để bù trừ cho nhược điểm của hai khẩu súng chính trước những kim chỉ nam chuyển dời nhanh tựa như các tàu khu trục. Cân nặng choán nước and độ rộng mạn thuyền tăng nếu như với các chiếc nữa chị em với cùng một tầm nước hơi nông hơn.[1]

Chiến lược Baltic chỉ là một trong các các lý lẽ bào chữa cho những con tàu. Đô đốc Fisher đã viết trong bức thư gửi cho DNC vào trong ngày 16 tháng ba năm 1915: “Mình đã nói với Ngài Bộ trưởng liên nghành rằng càng suy xét chất lượng về thi công của ông nếu với chiếc Tàu chiến-Tuần dương to, tôi càng bị điểm nổi bật về sự loại giỏi and đơn giản dễ dàng tiêu biểu vượt trội; cả ba kiến nghị cần thiết về hỏa lực, vận tốc and mớn nước đã đc thăng bằng tốt nhất!”[2] Trong thực tiễn chúng có khả năng xem là bản toát yếu tinh thần của Fisher về sức ảnh hưởng tuyệt vời của vận tốc trên mọi thứ khác. Sự gắn bó của Fisher với nguyên lý này nổi biệt trong 1 lá thư gửi cho Winston Churchill, Bộ trưởng liên nghành Thủy quân Anh vào thời gian đó, về các chiếc thiết giáp hạm cho Tài khóa Thủy quân 1912-1913. Fisher đã viết trong bức thư trong tháng 4 năm 1912 này: “Chúng phải quyết tử vỏ giáp … phải GIA TĂNG RẤT LỚN VỀ TỐC ĐỘ … vận tốc phải tiêu biểu vượt trội hơn hẳn nếu như với địch thủ thực lực!”[3]

Nhu cầu của Fisher về một tầm nước nông không những thuần túy dựa vào kiến nghị được cho phép hoạt động và sinh hoạt gần bờ. Những tàu chiến khi đó có xu thế hoạt động và sinh hoạt gần với tải trọng đầy tải tối đa hơn Dự kiến, and thường mất khoảng tầm nổi, độ nổi dự phòng and độ tin cậy nếu với những cuộc tiến công bên dưới nước. Tay nghề đó đã khiến DNC mở màn thu xếp lại những phần của lườn tàu để giải quyết và khắc phục vụ việc đc phát giác. Những cái trong lớp Courageous là các chiếc thứ nhất trong giai đoạn nhận định lại này.[4]

Những đặc tính chung[sửa | sửa mã nguồn]

Những cái trong lớp Courageous có chiều dài chung 786 foot 9 inch (239,8 m), mạn thuyền rộng 81 foot (24,7 m) and tầm nước sâu 25 foot 10 inch (7,9 m) khi đầy tải. Chúng có cân nặng choán nước nhiều lúc là 19.180 tấn Anh (19.490 t), and lên tới mức 22.560 tấn Anh (22.922 t) khi đầy tải. Chúng có độ cao khuynh tâm 6 foot (1,8 m) khi đầy tải and lườn tàu có đáy kép tổng thể toàn bộ.[5]

Con tàu nữa chị em Furious có chiều dài giống hệt như, nhưng mạn thuyền rộng 88 foot (26,8 m) and tầm nước sâu 24 foot 11 inch (7,6 m) khi đầy tải. Nó có cân nặng choán nước chuẩn mức 19.513 tấn Anh (19.826 t), and lên tới mức 22.890 tấn Anh (23.257 t) khi đầy tải. Độ cao khuynh tâm của chính bản thân nó là 5,33 foot (1,6 m) khi đầy tải.[5]

Động lực[sửa | sửa mã nguồn]

Để tiết kiệm chỗ and cân nặng, các chiếc trong lớp Courageous là các tàu chiến to thứ nhất của Thủy quân Cung điện hoàng gia đc trang bị turbine hơi nước hộp số and nồi hơi ống nước bé dại, mặc dầu loại sau yên cầu một việc làm bảo dưỡng nặng nề hơn đáng chú ý. Không chỉ có vậy, để tinh giảm thời khắc thi công, chúng dùng ngay kiểu turbine hộp khoản vốn đc trang bị cho tàu tuần dương hạng nhẹ Champion, tàu tuần dương thứ nhất của Thủy quân Cung điện hoàng gia đc trang bị turbine hộp số, đơn giản dễ dàng bằng phương pháp tăng gấp rất nhiều lần. Những turbine Parsons đc thu xếp trong hai phòng động cơ, and mỗi turbine dẫn động một trong các số bốn trục chân vịt. Chân vịt của Furious có 2 lần bán kính 11 foot 6 inch (3,5 m). Hơi nước ưng ý cho những turbine đc sản sinh từ 18 nồi hơi Yarrow, đc phân bổ đồng đều trên ba phòng nồi hơi. Chúng được thiết kế với để ưng ý hiệu suất tổng số 90.000 mã lực càng (67.113 kW) ở áp lực đè nén thao tác làm việc 235 psi (1.620 kPa), nhưng đã chiếm hữu nhỉnh hơn nhiều lúc khi Glorious chạy thử máy, mặc dầu nó không đạt đến vận tốc thi công 32 kn (59 km/h).[6]

Chúng được thiết kế với để đưa đi 750 tấn Anh (762 t) dầu đốt lúc nhiều lúc, nhưng có khả năng đưa đi tối đa đến 3.160 tấn Anh (3.211 t). Với lượng nguyên vật liệu tối đa, chúng có khả năng chuyển dời khoảng tầm 6.000 hải lý (11.110 km; 6.900 dặm) ở vận tốc 20 kn (37 km/h).[7]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Courageous đc trang bị bốn khẩu súng BL 15 inch (381 mm) Mark I trên hai tháp pháo nòng đôi kiểu Mark I* quản lý bằng thủy lực, một phần bên trước and 1 phía sau and chọn cái tên ‘A’ and ‘Y’ khớp ứng.[7] Các tháp pháo này nguyên đc ý định giành riêng cho một thiết giáp hạm thuộc lớp Revenge nhưng bị hủy bỏ chưa lâu sau thời điểm cuộc chiến tranh mở màn.[8] Những khẩu súng có khả năng hạ tối đa cho tới góc -3° and nâng đến góc 20°; việc nạp đạn có khả năng triển khai ở mọi góc nâng cho tới 20°, nhưng việc nạp đạn ở góc cạnh cao có xu thế làm chậm thời khắc trở lại góc bắn. Những con tàu đưa đi 120 quả đạn cho từng khẩu súng. Kiểu vũ khí này bắn ra đạn pháo nặng 1.910 pound (866 kg) ở lưu tốc đầu đạn 2.575 ft/s (785 m/s); được cho phép có tầm bắn tối đa 23.734 yd (21.702 m) với loại đạn pháo xuyên thép (AP).[9]

Những cái trong lớp Courageous được thiết kế với để đưa đi 18 khẩu súng BL 4 inch (102 mm) Mark IX, đc thu xếp trên sáu tháp pháo ba nòng. Chúng phải đc quản lý bằng tay thủ công and khá cồng kềnh, yên cầu một kíp pháo thủ 32 người để nạp đạn and xoay khẩu súng. Vận tốc bắn của kiểu vũ khí này chỉ đạt mức 10 đến 12 phát mỗi phút; chúng có khả năng hạ tối đa cho tới góc -10° and nâng đến góc 30°. Chúng bắn ra loại đạn pháo nổ mạnh (HE) nặng 22 pound (10,0 kg) ở lưu tốc đầu đạn 2.625 ft/s (800 m/s); and ở góc cạnh nâng tối đa chúng có khả năng bắn kim chỉ nam ở khoảng tầm phương pháp 13.500 thước Anh (12.344 m).[10] Con tàu đưa đi 120 quả đạn cho từng khẩu súng.[7]

Mỗi con tàu còn đưa đi một cặp pháo quận 3 inch 20 cwt[Note 1] phòng không trên những bệ nòng đơn Mark II góc cao. Chúng đc thu xếp ngang với cột ăn-ten chính trên các chiếc Courageous, and trước ống xả khói trên chiếc Furious.[7] Khẩu súng có khả năng hạ đến góc 10° and nâng đến góc 90°, bắn ra đạn pháo nặng 12,5 pound (5,7 kg) ở lưu tốc đầu đạn 2.500 ft/s (760 m/s) and với vận tốc bắn 12-14 phát mỗi phút. Chúng có trần bắn tác dụng 23.500 ft (7.200 m).[11] Cả ba con tàu cũng đưa đi mười quả ngư lôi và đã được trang bị hai ống phóng ngầm 21 in (533 mm) nạp kề bên, đc thu xếp gần tháp pháo ‘A’. Chúng đc nạp đạn and xoay bằng thủy lực, nhưng đc phóng ra bằng hơi nén.[12]

Kiểu pháo BL 18 inch (457 mm) Mark I mà Furious trang bị đc thay mới từ loại pháo 15 inch Mark I của không ít tàu nữa chị em. Chúng đc bỏ lên trên hai tháp pháo nòng đơn thay mới từ tháp pháo nòng đôi 15 inch Mark I/N, and bệ tháp pháo được thiết kế với để có khả năng gật đầu đc cả 2 loại tháp pháo phòng ngừa điều kiện việc cách tân và phát triển kiểu pháo 18 inch gặp trục trặc. Khẩu súng có khả năng hạ đến góc -3° and nâng đến góc 30°; nó bắn ra đạn pháo AP 4crh nặng 3.320 pound (1.510 kg) ở lưu tốc đầu đạn 2.270 ft/s (690 m/s) đến một khoảng tầm phương pháp tối đa 28.900 thước Anh (26.400 m). Chúng chỉ có khả năng bắn ở vận tốc một phát mỗi phút, and con tàu đưa đi 60 quả đạn pháo. Cân nặng xoay của tháp pháo là 826 tấn Anh (839 t), chỉ nhỉnh hơn nếu như với 810 tấn Anh (823 t) của tháp pháo nguyên thủy.[13]

Dàn pháo hạng hai mà Furious trang bị gồm có 11 khẩu BL 5,5 inch (140 mm) Mark I. Chúng có góc nâng tối đa 25° trên những bệ trục xoay, bắn ra đạn pháo nặng 82 pound (37 kg) ở lưu tốc đầu đạn 2.790 ft/s (850 m/s) and với vận tốc bắn 12 phát mỗi phút. Tầm bắn tối đa của chúng là 16.000 yd (15.000 m) ở góc cạnh nâng tối đa 25°.[14]

Kiểm soát điều hành hỏa lực[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn pháo chính trên các chiếc trong lớp Courageous có khả năng kiểm soát và điều hành xuất phát điểm từ một trong hai bộ kiểm soát và điều hành hỏa lực. Bộ kiểm soát và điều hành hỏa lực chính đc bỏ lên trên nóc tháp lãnh đạo trong 1 vòm bọc thép, còn bộ kia trong nóc quan sát trên cột ăn-ten chính.[15] Tài liệu tích lũy xuất phát điểm từ một máy đo tầm xa 15 foot (4,6 m) đặt trong vòm bọc thép đc chuyển đến một bảng tinh chỉnh hỏa lực Dreyer Mk IV* đặt trong trạm thông báo (tiến sĩ) địa chỉ chúng đc biên dịch thành số liệu tầm xa and độ lệch để những khẩu súng cần sử dụng.[16] Mỗi tháp pháo chính còn tồn tại một máy đo tầm xa 15 ft đặt trong 1 vòm bọc thép trên nóc tháp pháo. Dàn pháo hạng hai cũng rất được tinh chỉnh.[17] Nóc quan sát đc trang bị một máy đo tầm xa 9 foot (2,7 m), cũng giống như trên tháp lãnh đạo ngư lôi trên cấu tạo thượng tầng phía đằng sau. Pháo phòng chưa được kiểm soát và điều hành bằng một máy đo tầm xa 2 mét (6 ft 7 in) đơn giản dễ dàng bỏ lên trên cấu tạo thượng tầng phía đằng sau.[18]

Vỏ giáp đảm bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Rất khác những tàu chiến-tuần dương Anh khác, các chiếc trong lớp Courageous có hầu như vỏ giáp được gia công từ thép có độ co và giãn cao (high-tensil steel), loại thép hay được dùng vào cấu tạo những con tàu khác. Đai giáp ở mực nước bao gồm 1 lớp 2 in (51 mm) and phủ thêm 1 lớp bọc dày 1 in (25 mm); nó kéo dãn giữa hai bệ tháp pháo trước and sau and giải phóng và mở rộng thêm một in (25 mm) phần bên trước đến vách ngăn trước dày 2 in (51 mm) vốn phương pháp xa mũi tàu. Đai giáp cao 23 ft (7,0 m), trong các số đó 18 in (0,5 m) ở phía bên dưới mực nước theo thi công. Từ bệ tháp pháo trước, một vách ngăn dày 3 in (76 mm) giải phóng và mở rộng ra 2 bên lườn tàu giữa sàn trên and sàn bên dưới, cùng một vách ngăn giống hệt như ở bệ tháp pháo sau. Bốn lớp sàn tàu đc bọc thép với độ dày biên tập 0,75–3 in (19–76 mm), chỗ dày nhất ở bên trên hầm đạn and trục bánh lái. Sau việc ba tàu chiến-tuần dương Anh bị mất trong trận Jutland, lại có 110 tấn Anh (112 t) vỏ giáp đảm bảo bổ sung cập nhật đc đẩy mạnh cho sàn tàu chung quanh hầm đạn.[19]

Vỏ giáp đảm bảo cho tháp pháo, bệ tháp pháo and tháp lãnh đạo được gia công từ thép giáp Krupp. Mặt trước tháp pháo dày 9 in (229 mm) trong lúc những mặt hông dày 7–9 in (178–229 mm) and nóc dày 4,5 in (114 mm). Bệ tháp pháo có độ dày tối đa 6–7 in (152–178 mm) ở bên trên sàn chính, nhưng sụt giảm còn 3–4 in (76–102 mm) giữa sàn chính and sàn bên dưới. Tháp lãnh đạo có vỏ giáp cho những mặt bên dày 10 in (254 mm) and nóc dày 3 in (76 mm). Bộ tinh chỉnh hỏa lực chính ở bên trên tháp lãnh đạo chứa một vòm bọc thép với mặt trước dày 6 in (152 mm), những mặt bên dày 2 in (51 mm) and nóc đc đảm bảo với giáp 3 inch. Một ống gọi điện liên lạc vợi những mặt hông dày 3 inch chạy từ tháp lãnh đạo đến chỗ đứng lãnh đạo phía bên dưới ở sàn chính. Những vách ngăn chống ngư lôi đc ngày càng tăng độ dày từ 0,75 in (19 mm) lên 1,5 in (38 mm) trong giai đoạn sản xuất.[20]

Cả ba con tàu đc trang bị bầu chống ngư lôi nông phối hợp trong lườn tàu, với dự tính kích nổ quả ngư lôi trước lúc nó va chạm sự thật với lườn and hướng áp lực đè nén của vụ nổ bên dưới nước lên mặt nước thay thế vì vào lườn tàu. Tay nghề tiếp nối đã cho chúng ta biết nó chưa được đặt đủ sâu để hoàn thiện trọng trách, nợ những ngăn rỗng and đầy thiết yếu để hấp thu sức mạnh mẽ của vụ nổ.[21]

Những cái trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động và sinh hoạt Số phận
Courageous 28 tháng ba năm 1915[22] 5 tháng hai năm 1916[22] 28 tháng 10 năm 1916[22] Bị tàu ngầm Đức U 29 đánh chìm ngày 17 tháng chín năm 1939[23]
Glorious 1 tháng năm năm 1915[22] 20 tháng bốn năm 1916[22] 14 tháng 10 năm 1916[22] Bị Scharnhorst and Gneisenau đánh chìm khi triệt thoái khỏi Na Uy ngày 8 tháng sáu năm 1940[23]
Furious 8 tháng sáu năm 1915[22] 15 tháng tám năm 1916[22] 26 tháng sáu năm 1917[22] Tạm dừng hoạt động năm 1944; bị bán để tháo dỡ ngày 15 tháng ba năm 1948[24]

Lịch sử vẻ vang hoạt động và sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Những hoạt động sinh hoạt thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những lúc chạy thử máy trong tháng 11 năm 1916 xa bờ River Tyne, Courageous chịu đựng các hư hỏng về cấu tạo khi nó chuyển dời hết vận tốc vào thời gian biển động. Sàn trước bị cong oằn nặng ở ba chỗ giữa mũi tàu and tháp pháo phần bên trước.[25] Không chỉ có vậy, những tấm thép ốp lườn tàu cũng cảm nhận đc sự uốn cong giữa sàn trước and sàn trên. Nước đã ập vào những phòng ngư lôi ngầm, and đinh tán bị cắt vạt ở mép đứng những đế sắt thắt chặt và cố định vỏ giáp sàn tàu.[26] Lý do đúng chuẩn không còn cam kết, nhưng Courageous được trao 130 tấn Anh (132 t) thép gia cố; Glorious chỉ đc gia cố thêm vào thời điểm năm 1918.[27]Courageous còn đc trong thời điểm tạm thời trang bị như 1 tàu rải mìn trong tháng 4 năm 1917, nhưng chưa khi nào sự thật rải mìn. Đến giữa năm 1917 cả 2 đc bổ sung cập nhật sáu cặp ống phóng ngư lôi: một cặp mỗi bên mạn của cột ăn-ten chính tại mức sàn trên and hai cặp mỗi bên mạn tháp pháo sau tại mức sàn sau.[28][29]Courageous and Glorious giao hàng cùng với nhau suốt trong quãng cuộc chiến tranh. Mở màn chúng đc điều về Hải đội Tuần dương nhẹ 3 nhưng tiếp nối đc chuyển qua Hải đội Tuần dương 1.[30]

250px FuriousSP 89

Furious nguyên thủy vào thời gian hoàn tất

Ngay lúc còn đang rất được sản xuất, Furious đc cải biến với cùng một hầm chứa máy bay (hangar) to chứa mười máy bay bên dưới sàn trước thay cho tháp pháo phần bên trước, cùng một sàn cất cánh dài 160 ft (49 m) đc sản xuất trên nóc. Máy bay đc cho cất cánh từ sàn này, và đã được cho hạ cánh nhưng ít chiến thắng hơn. Mặc dầu tháp pháo đuôi đc trang bị and khẩu súng đc quản lý thử, chỉ chưa lâu tiếp nối Furious trở lại xưởng tàu sẽ được cải biến thêm. Vào thời điểm tháng 11 năm 1917, tháp pháo đuôi đc tháo dỡ thay bằng một sàn hạ cánh dài 300 ft (91 m) ở bên trên một hầm chứa máy bay khác.[31] Ống xả khói and cấu tạo thượng tầng của chính bản thân nó đc không thay đổi, với các lối sàn hẹp chung quanh chúng thông liền hai sàn cất hạ cánh.[29] Hiện tượng kỳ lạ nhiễu loạn không gian từ ống xả khói and cấu tạo thượng tầng đáng chú ý tới mức chỉ có ba lượt tìm phương pháp hạ cánh chiến thắng trước lúc những nỗ lực cố gắng khác bị cấm.[32] Những khẩu súng 18 inch của chính bản thân nó đc cần sử dụng lại trên các chiếc monitor lớp Lord Clive General Wolfe and Lord Clive trong cuộc chiến tranh.[33]

Cả ba con tàu đều đã và đang trong phần tử Hải đội Tuần dương 1 với Courageous là soái hạm khi Bộ Thủy quân nhận đc Thông tin về việc tàu chiến Đức chuyển dời vào trong ngày 16 tháng 10 năm 1917, có khả năng là biểu thị của 1 campaign bắn phá. Đô đốc David Beatty, Tư lệnh Hạm chiến Grand Anh Quốc, ra lệnh cho đông đảo những tàu tuần dương hạng nhẹ and tàu khu trục bên dưới quyền ra khơi săn đón tàu đối thủ cạnh tranh. Furious đc cho tách khỏi Hải đội Tuần dương 1 để càn quét chạy dọc theo vĩ tuyến 56° Bắc cho tới kinh độ 4° Đông and trở lại trước lúc trời tối. Hai chiếc kia thoạt đầu chưa được ra mắt khơi, nhưng tiếp nối đc gửi đi đẩy mạnh cho Hải đội Tuần dương nhẹ 2 tuần tra xung quanh vị trí giữa Bắc Hải and cuối ngày hôm đó.[34] Hai tàu tuần dương hạng nhẹ Đức thuộc lớp Brummer đã tìm phương pháp lọt qua khoảng không giữa những tàu tuần tra Anh and đè bẹp một đoàn tàu vận tải đường bộ đang nhắm đến Scandinavia vào sáng ngày 17 tháng 10, nhưng dường như không nhận đc Thông tin gì về cuộc đụng độ cho tới xế trưa hôm đó. Hải đội Tuần dương 1 đc lệnh đánh chặn những con tàu Đức, nhưng chúng đã ở quá xa không còn nào bắt kịp.[35]

Trận Heligoland Bight thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Heligoland Bight thứ 2

Trong thời gian 1917, Bộ Thủy quân Anh càng ngày càng suy xét những nỗ lực cố gắng rà quét những bãi thủy lôi của Đức tại Bắc Hải, vốn do phía Anh rải nhằm mục tiêu giảm bớt những hoạt động sinh hoạt của Hạm chiến Biển khơi Đức cũng giống như những tàu ngầm U-boat. Một đợt bắn phá sơ khởi nhắm vào đội quân quét mìn Đức vào trong ngày 31 tháng 10 do những đội quân hạng nhẹ thi công đã đè bẹp đc mười tàu bé dại, and Bộ Thủy quân ra quyết định triển khai một campaign to hơn để đè bẹp những tàu quét mìn cùng những tàu tuần dương hạng nhẹ hộ tống chúng. Dựa vào những báo cáo giải trình tình báo, họ ra quyết định kêu gọi vào trong ngày 17 tháng 11 năm 1917 hai hải đội tuần dương nhẹ, Hải đội Tuần dương 1 đc đảm bảo bởi Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 1 có đẩy mạnh, and xa hơn phía đằng sau là những thiết giáp hạm của Hải đội Chiến trận 1.[36]

Những con tàu Đức, gồm có bốn tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc Đội quân Tuần tiễu II, tám tàu khu trục, ba đội tàu quét mìn, tám tàu sperrbrecher [Note 2] and hai tàu đánh cá để lưu lại luồng đc quét, bị phát giác lúc 07 giờ nửa tiếng,[Note 3] soi bóng trong ánh nắng bình minh; bảy phút sau, Courageous cùng theo với tàu tuần dương hạng nhẹ Cardiff khai hỏa với những khẩu súng phần bên trước của chúng. Phía Đức phản xạ bằng phương pháp thả một màn khói, phía Anh liên tục đuổi giết, nhưng mất dấu đông đảo những con tàu bé dại và cũng đã tập trung chuyên sâu hỏa lực vào những tàu tuần dương hạng nhẹ mọi khi có thời cơ. Một quả đạn pháo 15 inch bắn trúng giá chắn pháo của chiếc Pillau nhưng không còn làm tụt dốc mạnh độ của chính bản thân nó. Lúc 08 giờ 33 phút, khẩu súng bên trái trên tháp pháo phần bên trước của Glorious bị hỏng lúc một quả đạn kích nổ bên phía trong nòng pháo. Đến 09 giờ nửa tiếng, Hải đội Tuần dương 1 từ bỏ cuộc đuổi giết do không hề muốn đi vào trong 1 bãi mìn đc lưu lại trên map của mình; quay mũi về phía Nam and không đóng tầm quan trọng nào khác trong đại chiến. Những con tàu Đức đã ở phương pháp rất xa khó có khả năng bị những tàu Anh bắt kịp trước lúc phải đổi hướng né bãi mìn.[37]

Cả 2 chiếc đều bị các hư hỏng nhẹ bởi chớp lửa đầu nòng của chính chúng, and Glorious cần phải có năm ngày thay thế sửa chữa.[38]Courageous đã bắn tổng số 92 phát đạn pháo 15 inch còn Glorious bắn 57 phát, chỉ ghi được 1 phát trúng Pillau; chúng còn bắn 180 and 213 phát đạn pháo 4 inch, khớp ứng.[39] Những loại thiết bị rải mìn của Courageous đc tháo dỡ sau đại chiến, đến cả hai nhận được các bệ cất cánh giành riêng cho thủy phi cơ ở bên trên nóc những tháp pháo vào thời điểm năm 1918; một cái Sopwith Camel đc đưa đi trên tháp pháo đuôi cùng một cái Sopwith 1½ Strutter trên tháp pháo phía mũi.[40]

Furious đc cho hoạt động và sinh hoạt quay trở lại vào trong ngày 15 tháng ba năm 1918, and các máy bay đc phối thuộc của chính bản thân nó đc cần sử dụng trong những cuộc tuần tra chống khí cầu Zeppelin tại Bắc Hải từ thời điểm tháng 5. Vào thời điểm tháng 7 năm 1918, nó ra mắt bảy chiếc Sopwith Camel để triển khai cuộc Không kích Tondern tiến công địa thế căn cứ Zeppelin tại Tondern với khoảng độ chiến thắng vừa phải.[41] Cả ba chiếc đã hiện hữu vào thời gian Hạm chiến Đức đầu hàng vào trong ngày 21 tháng 11 năm 1918.[29][42]

Sau cuộc chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Courageous (lớp tàu trường bay)

Courageous đc đưa về đội quân dự bị tại Rosyth vào trong ngày 1 tháng hai năm 1919 trước lúc đc thu xếp về Trường Tác xạ thuộc Địa thế căn cứ Devonport vào thời điểm năm tiếp sau như 1 tàu thực hành thực tế tháp pháo. Nó biến thành soái hạm của Chuẩn đô đốc Tư lệnh Dự bị tại Devonport trong tháng 3 năm 1920. Glorious cũng rất được đưa về đội quân dự bị tại Rosyth vào trong ngày 1 tháng hai and giao hàng như 1 tàu thực hành thực tế tháp pháo, rồi sửa chữa cho con tàu chị em với nó trong tầm quan trọng soái hạm từ thời điểm năm 1921 đến năm 1922. Furious đc đưa về đội quân dự bị vào trong ngày 21 tháng 11 năm 1919 trước lúc mở màn việc làm tái cấu tạo thành tàu trường bay vào thời điểm năm 1921.[24]

Hiệp ước Thủy quân Washington năm 1922 kiến nghị những nước nhập cuộc phải cắt giảm đáng chú ý chiến lược đóng tàu chiến mới cùng tháo dỡ nhiều tàu hiện diện để tuân hành số lượng giới hạn về tải trọng. Tuy vậy, nó cũng được cho phép cho tới 66.000 tấn Anh (67.000 t) tàu hiện đạt được cải trở thành tàu trường bay, and Thủy quân Cung điện hoàng gia đã chọn cải biến các chiếc thuộc lớp Courageous do vận tốc nhanh của chúng. Mỗi chiếc đc tái cấu tạo trong trong thời điểm 1920 với cùng một sàn đáp suốt chiều dài con tàu. Những tháp pháo 15 inch của chúng đc lưu cất, and về sau trong Thế Chiến II đc cần sử dụng cho chiếc Vanguard, thiết giáp hạm sau cuối của Thủy quân Cung điện hoàng gia.[43]

Là chiếc tàu trường bay to (có cách gọi khác là tàu trường bay “chiến hàm”) thứ nhất đc hoàn tất của Thủy quân Cung điện hoàng gia, Furious đc cần sử dụng thoáng mát trong công việc nhận định kỹ thuật quản lý and hạ cánh máy bay, gồm có việc hạ cánh đêm tối lần thứ nhất vào thời điểm năm 1926.[44]Courageous biến thành tàu chiến thứ nhất của Thủy quân Cung điện hoàng gia bị mất trong Cuộc chiến tranh Xã hội thứ 2 khi nó trúng ngư lôi xuất phát điểm từ một tàu ngầm U-boat Đức trong tháng 9 năm 1939.[45]Glorious đuổi giết không chiến thắng thiết giáp hạm bỏ túi Đức Admiral Graf Spee tại Ấn Độ Dương vào thời điểm năm 1939; rồi nhập cuộc Campaign Na Uy năm 1940 nhưng bị những thiết giáp hạm Đức Scharnhorst and Gneisenau đánh chìm trong tháng 6 khi cho phép quay trở về nhà một phương pháp không khôn ngoan với việc hộ tống ít nhất.[46]Furious thông qua các tháng thứ nhất của cuộc chiến tranh săn đuổi tàu cướp tàu buôn and hộ tống đoàn tàu vận tải đường bộ trước lúc mở màn giúp sức đội quân Anh tại Na Uy. Nó thông qua hầu như năm 1940 tại vùng biển Na Uy tiến công những cơ sở and tàu bè Đức, rồi hầu như năm 1941 luân chuyển máy bay đến Tây Phi, Gibraltar and Malta trước lúc đc tái trang bị tại Đất nước Hoa Kỳ. Nó liên tục luân chuyển máy bay đến Malta trong phần tử những đoàn tàu vận tải đường bộ Malta trong thời gian 1942 rồi giúp sức trên quán triệt đội quân Anh trong Campaign Torch. Nó thông qua hầu như năm 1943 huấn luyện và giảng dạy cùng theo với Hạm chiến Nhà, nhưng cũng triển khai nhiều cuộc không kích nhắm vào thiết giáp hạm Đức Tirpitz and những kim chỉ nam khác tại Na Uy vào thời điểm năm 1944. Tuy vậy Furious đã cũng biến thành cũ kỹ and không tân tiến; and với việc xuất hiện của đa số tàu trường bay mới, nó đc đưa về đội quân dự bị trong tháng 9 năm 1944 trước lúc bị đào thải vào thời điểm năm tiếp sau, và đã được bán để tháo dỡ vào thời điểm năm 1948.[47]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “cwt” là thuật ngữ viết tắt của hundredweight, 30 cwt ảnh hưởng đến cân nặng khẩu súng.
  2. ^ Sperrbrecher là một kiểu tàu đánh cá chất đầy phao bần, đc cần sử dụng để gia công nổ mìn mà không xẩy ra chìm.
  3. ^ Thời điểm nêu trong bài này thuộc giờ UTC, trễ hơn một giờ nếu như với khung giờ Trung Âu mà hầu như những dự án công trình nghiên cứu và điều tra của Đức cần sử dụng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ aăBurt 1986, tr. 303
  2. ^ Roberts 1997, tr. 51
  3. ^ Roberts 1997, tr. 46
  4. ^ Roberts 1997, tr. 53
  5. ^ aăRoberts 1997, tr. 64–65
  6. ^ Roberts 1997, tr. 71, 74, 76, 79
  7. ^ aăâbBurt 1986, tr. 306
  8. ^ Burt 1986, tr. 291, 308
  9. ^

    “British 15″/42 (38.1 cm) Mark I”. navweaps.com. ngày một tháng bốn năm 2010. Truy vấn ngày 4 tháng năm năm 2010.

  10. ^ “Britain 4″/45 (10.2 cm) BL Marks IX và X”. navweaps.com. ngày 25 tháng một năm 2010. Truy vấn ngày 7 tháng năm năm 2010.
  11. ^ “British 12-pdr [3″/45 (76.2 cm)] 20 cwt quận HA Marks I, II, III và IV”. ngày 27 tháng hai trong năm 2007. Truy vấn ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  12. ^ Roberts 1997, tr. 83
  13. ^ “British 18″/40 (45.7 cm) Mark I”. navweaps.com. ngày 22 tháng 10 năm 2009. Truy vấn ngày 10 tháng năm năm 2010.
  14. ^ “British 5.5″/50 (14 cm) BL Mark I”. navweaps.com. ngày 23 tháng một năm 2009. Truy vấn ngày 7 tháng năm năm 2010.
  15. ^ Roberts 1997, tr. 93
  16. ^ Brooks 2005, tr. 170
  17. ^ McBride 1990, tr. 106
  18. ^ Burt 1986, tr. 307
  19. ^ Burt 1986, tr. 308, 313
  20. ^ Roberts 1997, tr. 54, 106, 113
  21. ^ Roberts 1997, tr. 111
  22. ^ aăâbcdđeêRoberts 1997, tr. 63
  23. ^ aăGardiner 1984, tr. 38
  24. ^ aăBurt 1986, tr. 315
  25. ^ Burt 1986, tr. 309
  26. ^ Burt 1986, tr. 309, 313
  27. ^ Roberts 1997, tr. 54
  28. ^ McBride 1990, tr. 109
  29. ^ aăâBurt 1986, tr. 314
  30. ^ Parkes 1990, tr. 621
  31. ^ Parkes 1990, tr. 622
  32. ^ Parkes 1990, tr. 624
  33. ^ Buxton 2008, tr. 73
  34. ^ Newbolt 1996, tr. 150–151
  35. ^ Newbolt 1996, tr. 156–157
  36. ^ Newbolt 1996, tr. 164–165
  37. ^ McBride 1990, tr. 110–112
  38. ^ McBride 1990, tr. 115
  39. ^ Campbell 1978, tr. 67
  40. ^ Campbell 1978, tr. 66
  41. ^ Newbolt 1996, tr. 347
  42. ^ “Operation ZZ”. World War One: The Great War at Sea. Truy vấn ngày 13 tháng năm năm 2010.
  43. ^ Parkes 1990, tr. 647
  44. ^ Jenkins 1972, tr. 274
  45. ^ Rohwer 2005, tr. 1–3
  46. ^ Rohwer 2005, tr. 26
  47. ^ Jenkins 1972, tr. 277–288

Folder[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brooks, John (2005). Dreadnought Gunnery và the Battle of Jutland: The Question of Fire Control. Naval Policy và History. 32. Abingdon, Oxfordshire: Routledge. ISBN 0-415-40788-5.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Burt, R. A. (1986). British Battleships of World War One. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-863-8.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Buxton, Ian (2008). Big Gun Monitors: Design, Construction và Operations 1914–1945 (ấn bản 2). Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-045-0.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Campbell, N. J. M. (1978). Battle Cruisers: The Design và Development of British và German Battlecruisers of the First World War Era. Warship Special. 1. Greenwich: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-130-0.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Gardiner, Robert; Gray, Randal điều chỉnh (1984). Conway’s All the World’s Fighting Ships, 1906–1921. Annapolis, Mayland: Naval Institute Press. ISBN 978-0-87021-907-8. OCLC 12119866.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Jenkins, C. A., Commander (1972). HMS Furious/Aircraft Carrier 1917–1948: Part II: 1925–1948. Warship Profile. 24. Windsor, Berkshire: Profile Publications. OCLC 10154565.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • McBride, Keith (1990). “The Weird Sisters”. Trong Gardiner, Robert (điều chỉnh). Warship. 1990. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-903-4.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Newbolt, Henry (1996). Naval Operations. History of the Great War Based on Official Documents. V . Nashville, TN: Battery Press. ISBN 0-89839-255-1.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Parkes, Oscar (1990). British Battleships . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-075-4.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Roberts, John (1997). Battlecruisers. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-068-1.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.Điều hành và quản lý CS1: ref=harv (kết nối)

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dreadnought Project Technical material on the weaponry và fire control for the ships
  • Photo gallery of CourageousGlorious
  • Photo gallery for Furious as both battlecruiser và aircraft carrier

Bài Viết: Courageous (lớp tàu chiến-tuần dương) là gì? Chi tiết về Courageous (lớp tàu chiến-tuần dương) mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Đồng Tiến, Yên Thế là gì? Chi tiết về Đồng Tiến, Yên Thế mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.