Clark Gable là gì? Chi tiết về Clark Gable mới nhất 2022

Clark Gable

Clark Gable - publicity.JPG

Clark Gable

Sinh (1901-02-01)1 tháng hai, 1901
Cadiz, Ohio, Đất nước Hoa Kỳ
Mất 16 tháng 11, 1960(1960-11-16) (59 tuổi)
Los Angeles, California, Đất nước Hoa Kỳ
Nguyên nhân mất Nhồi máu cơ tim
Nghề nghiệp và công việc Diễn viên
Năm hoạt động và sinh hoạt 1923 – 1960
Phối ngẫu Josephine Dillon (1924-1930)
Maria “Ria” Franklin Printiss Lucas Langham (1931-1939)
Carole Lombard (1939-1942)
Sylvia Ashley (1949-1952)
Kay Williams (1955-1960)

William Clark Gable (ngày một tháng hai năm 1901 – ngày 16 tháng 11 năm 1960) là một nam diễn viên điện ảnh Đất nước Hoa Kỳ, đc nghe biết nhiều qua vai Rhett Butler trong bộ phim truyện năm 1939 về nội chiến Mỹ Kéo theo chiều gió, đóng cặp cùng Vivien Leigh. Rhett đã đem lại cho ông đề cử Giải Oscar cho nam diễn viên chính loại giỏi nhất; ông cũng đạt giải Oscar cho phim It Happened One Night (1934) và đã được một đề cử cho vai diễn trong phim Mutiny on the Bounty (1935). Các vai diễn kỷ niệm tiếp sau là trong Run Silent, Run Deep and trong bộ phim truyện ở đầu cuối The Misfits (1961), đóng cùng Marilyn Monroe and đó cũng là lần ở đầu cuối lộ diện trên màn ảnh của tất cả hai người.

Trong công danh sự nghiệp điện ảnh huy hoàng của chính mình, Gable thường đóng cặp cùng các cô diễn viên đình đám nhất của thời buổi. Joan Crawford, người mà Gable cực thích thao tác làm việc cùng, đã đứng cạnh ông trong 8 bộ phim truyện, Myrna Loy đóng cùng ông 7 lần, and ông cũng cùng diễn với Jean Harlow trong 6 bộ. Gable cũng đóng cặp cùng Lana Turner trong 3 phim, and với Norma Shearer 3 lần. Gable luôn nằm phí trong top các ngôi sao sáng lừng danh nhất của thập niên 30.

Thời niên nợ[sửa | sửa mã nguồn]

Clark Gable ra đời tại Cadiz, Ohio, con của William Henry “Bill” Gable, một nhà khoan giếng dầu [1][2] và Adeline Hershelman, of German and Irish [3] phá sản. Ông bị nhầm lẫn là nữ trong giấy tờ chứng sinh. Tên khai sinh của ông là William Clark Gable, nhưng trong hộ khẩu, văn bằng and những sách vở ảnh hưởng thì lại mang trong mình 1 tên khác. “William” là để tưởng niệm cha ông. “Clark” là tên trước lúc lấy chồng của bà ngoại ông. Thời thơ ấu ông thường đc gọi là “Clark”; vài người bạn gọi ông là “Clarkie”, “Billy” hay “Gabe”.[4]

Khi ông đc sáu tháng tuổi, mẹ ông rửa tội theo nghi thức Công giáo cho ông. Bà mất khi ông mới 10 tháng tuổi bởi bệnh u não. Sau cái chết của bà, nhà nội Gable không gật đầu nuôi ông như 1 FAN Công giáo and thuận tình cho ông có thời khắc sống với nhà ngoại theo Công giáo, ông bác Charles Hershelman, tại trang trại của ông ở Vernon, Pennsylvania.

Tháng tư năm 1903, cha Gable father tái giá với Jennie Dunlap, đến xuất phát từ 1 thị xã bé dại cạnh bên Hopedale. Gable là một đứa trẻ to lớn nhưng hay bận bịu cỡ and nói âm khó nghe. Sau thời điểm cha cậu tậu đất and xây nhà ở, một GĐ mới đc tạo dựng ở địa chỉ này. Jennie hay trình diễn dương cầm and dạy học cho cậu con ghẻ tận nơi, and cậu bé rất có thể chơi đc nhạc khí đồng. Bà cũng để Gable ăn diện xinh and chải chuốt khiến cậu tính chất hẳn đối với đồng chí đồng trang lứa. Gable có thiên hướng trong cơ khí and thích điều tra nghiên cứu thay thế xe hơi cùng cha cậu. Mặc dầu người cha luôn muốn cậu có các nụ cười nam tính mạnh mẽ như săn bắn and thể thao nhưng Gable lại thích thơ ca. Cậu rất có thể ngâm Shakespeare, tính chất là các bài sonnet. Will Gable thuận tình mua một bộ 72 tập các sản phẩm thực tế kinh hồn bạt vía xã hội để đổi mới học vấn của thiếu niên, nhưng lại không hề muốn cảm nhận cậu dùng nó.[5] Năm 1917, khi Gable vào trung học, cha cậu phá sản. Will ra quyết định chuyển sang làm nông trại and GĐ chuyển tới Ravenna, giáp Akron. Gable không muốn nghi đc với vùng đất mới. Mặc dầu cha cậu muốn cậu kế nghiệp ở trang trại nhưng Gable vẫn đến thao tác làm việc tại xí nghiệp sản xuất chế tạo cà vạt B.F. Goodrich.

Năm 17 tuổi, Gable nuôi giấc mộng diễn xuất sau lúc chứng kiến tận mắt vở kịch The Bird of Paradise, nhưng ông đã không còn gì sự thật khởi nghiệp cho tới mãi năm 21 tuổi and nhận quyền thừa hưởng. Khi đó, mẹ kế Jennie qua đời and cha ông bỏ tới Tulsa để trở về kinh doanh thương mại dầu. Gable tìm việc trong 1 nhà hát hạng hai, kế tiếp lại đến Portland, Oregon and xin một chân bán sản phẩm trong hiệu tạp hoá. Tại chỗ này, ông gặp cô diễn viên Laura Hope Crews, bà đã khích lệ ông quay trở về với sân khấu and xin vào một trong những rạp hát khác. Thầy dạy của ông là giám đốc một rạp hát ở Portland, Oregon, bà Josephine Dillon (nhiều hơn nữa ông 17 tuổi). Dillon chi tiền cho ông sửa răng and làm tóc. Bà cũng chỉ dẫn ông hoàn hảo hình thể and dáng điệu and lưu ý dạy ông luyện giọng cao, để chất giọng có âm vực hay hơn. Khi giọng nói đc cải tổ, sự dấu hiệu nét mặt của ông cũng tự nhiên và thoải mái and giàu sức thuyết phục hơn rất rõ nét.[6] Sau một khoảng thời gian dài khổ luyện, Dillon ban đầu đưa Gable đến điện ảnh.

Công danh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sân khấu and phim câm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1924, với việc hỗ trợ vốn của Dillon, cả 2 đã đặt chân đến nơi đó Hollywood, Dillon biến thành điều hành và quản lý của Gable and hai người kết duyên. Ông đặt nghệ danh là Clark Gable.[7] and đóng vai phụ trong một số trong những phim câm như The Plastic Age (1925), nữ chính Clara Bow, and Forbidden Paradise, cũng như với loạt phim hài The Pacemakers. Ông cũng tồn tại giữa những vai quần chúng trong một số trong những phim ngắn. Mặc dù thế, Gable chưa được diễn bất kỳ một vai chính nào nên ông trở về với sân khấu, biến thành bạn thâm giao với Lionel Barrymore, mặc dầu ông đó đã chê bai diễn xuất không chuyên của Gable nhưng vẫn khuyễn khích ông theo nghiệp sân khấu.[8] Suốt mùa diễn 1927-28, Gable diễn trong đoàn Laskin Brothers Stock ở Houston và đã được phân tương đối nhiều vai, biến thành ngôi sao sáng kịch nghệ trong vùng. Tiếp nối Gable tới Thủ đô New York and Dillon tìm việc cho ông tại Broadway. Ông tạo ra điểm nhấn với Machinal, Morning Telegraph review “Anh ấy trẻ, đầy nội khí and nam tính mạnh mẽ mạnh bạo”.[9] Ảnh hưởng tác động của đại khủng hoảng rủi ro tài chính and sự Thành lập của phim âm lượng tạo cho nhiều vở diễn trong dịp 1929-30 bị trì trệ dần, những vai diễn cũng biến thành khó kiếm.

Chiến thắng bắt đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1930, sau vai diễn điểm nhấn Killer Mears, một kẻ liều mạng trong vở The Last Mile, Gable đc ký HĐ với Metro–Goldwyn–Mayer. Vai diễn thứ nhất trong phim âm lượng của ông là một vai phản diện trong The Painted Desert (1931). Ông nhận đc không ít thư của fan hâm mộ vì giọng nói cùng diễn xuất mạnh bạo. And nhà đài đã cảnh báo tới ông.

Cùng năm đó, Gable and Josephine Dillon li hôn. Ít lâu sau, ông cưới một đàn bà phong phú and gia thế ở Texas, bà Ria Franklin Prentiss Lucas Langham. Sau thời điểm tới California, họ làm đám hỏi lại năm 1931, do sự độc đáo về điều khoản giữa những bang.

“Tai anh ta quá rộng and trông như 1 con khỉ cắt đuôi”, điều hành và quản lý Darryl F. Zanuck của Warner Bros review về Clark Gable sau khoản thời gian ông thử vai chính cho phim gangster Little Caesar (phim) (1931).[10] Sau ít lần thất bại, Gable đc gật đầu bởi Irving Thalberg của MGM and móc nối đc với Minna Wallis làm điều hành và quản lý. Bà là một đàn bà quen biết rộng, là chị gái của đạo diễn Hal Wallis and rất thân với Norma Shearer.

Gable đã đặt chân đến nơi đó Hollywood đúng vào thời gian MGM đang cần search nam diễn viên. Ông đa phần đóng các vai phụ and thường là vai phản diện. GĐ công chúng của MGM – Howard Strickland đã hỗ trợ Gable tiếp thị hình ảnh. MGM cũng thường để ông đôi bạn trẻ ở bên cạnh các nữ minh tinh Gianh Giá của hãng sản xuất. Joan Crawford đã mời ông diễn cùng mình trong Dance, Fools, Dance (1931). Gable cũng biến thành đình đám and không còn xa lạ với công chúng qua các bộ phim truyện như A Không lấy phí Soul (1931), trong này ông diễn một tay gangster đã tát nhân vật của Norma Shearer (Gable không khi nào diễn một vai phụ nào nữa sau cái tát này). The Hollywood Reporter viết “Một ngôi sao sáng đã đc ra đời, and đó, theo như tất cả chúng ta ước đoán, sẽ khiến lu mờ mọi ngôi sao sáng khác… Chưa khi nào tất cả chúng ta cảm nhận người theo dõi kích động mãnh liệt bằng như khi Clark Gable bước ngang qua màn bạc”.[11] Ông thường xuyên với Susan Lenox (Her Fall và Rise) (1931) cùng Greta Garbo, and Possessed (1931) với Joan Crawford and dấy lên 1 loạt chuyện “phim giả, tình thật”. Adela Rogers St. John nhận định rằng “chuyện tình này gần như là đã đốt cháy Hollywood.”[12] Louis B. Mayer rình rập đe dọa cắt HĐ của tất cả hai and Gable chuyển hướng sang Marion Davies. Mặc dù thế, Gable and Garbo rất chi là ghét nhau. Bà nghĩ ông là một diễn viên trơ như củi còn ông thì coi bà là một bà cô hợm hĩnh.

Biến thành minh tinh[sửa | sửa mã nguồn]

200px It Happened One Night 2

với Claudette Colbert trong It Happened One Night (1934)

Gable là ứng viên vượt trội hoàn toàn cho vai chính trong Tarzan nhưng bị mất vào tay Johnny Weissmuller vì không dẻo dai and lượn lờ bơi lội giỏi bằng. Gable đóng cặp người yêu cùng Jean Harlow trong Red Dust (1932), điều đó đẩy ông lên vị trí đặt số 1 của MGM. SauHold Your Man (1933), MGM ban đầu thiết kế xây dựng hình ảnh uyên ương vàng Gable-Harlow, ghép đôi hai người trong vô số phim như Trung Hoa Seas (1935) and Wife vs. Secretary (1936). Một sự kết hợp kinh hồn bạt vía, trên màn ảnh and ngoài màn ảnh, Gable and Jean Harlow đã có rất nhiều với nhau 6 bộ phim truyện, vượt trội như Red Dust (1932) and Saratoga (1937). Harlow qua đời vì suy thận trong những lúc làm phim Saratoga. Đã hoàn thiện đc 90%, bộ phim truyện vẫn thường xuyên với không ít sự việc; Gable bảo rằng ông thấy như là mình “nằm phí trong vòng tay của hồn ma”.[13]

Gable không hẳn sự chọn lựa thứ nhất cho vai Peter Warne trong It Happened One Night. Robert Montgomery là ứng viên hàng đầu, nhưng ông thấy ngữ cảnh quá đơn điệu.[14] Bộ phim truyện ban đầu một phương pháp mệt mỏi,[4] nhưng cả Gable and Frank Capra thường rất hứng thú.

200px Clark gable mutiny bounty 5

vai Fletcher Christian trong Mutiny on the Bounty (1935)

It happen one night là một thắng lợi vĩ đại, là phim thứ nhất đoạt cả ngũ đại giải Oscar mà cho đến thời điểm bây giờ cũng mới chỉ có hai phim tái diễn kỉ lục này. Gable đã đạt được Giải Oscar cho nam diễn viên chính loại giỏi nhất and kinh điển ngôi sao sáng của ông cũng to hơn không ít.[15]

Gable cũng nhận được 1 đề cử Oscar với vai Fletcher Christian trong Mutiny on the Bounty năm 1935. Năm tiếp sau, ông có 1 loạt phim thắng lợi bùng cháy rực rỡ, mang về cho Gable thương hiệu “Ông vua của Hollywood” năm 1938. Thương hiệu đó được lần đầu dùng bởi Spencer Tracy, bắt đầu từ khi Ed Sullivan đề xướng 1 cuộc nhận xét trên bài báo của chính mình and hơn hai mươi triệu fan hâm mộ đã bầu Gable ‘Ông vua’ and Myrna Loy ‘Nữ hoàng’ của Hollywood. Tuy thương hiệu này cứu sự nghiêph ông lên chức không ít nhưng Gable vẫn thấy căng thẳng mệt mỏi vì nó, trong tương lai ông nói “Cái danh hão ‘Ông vua’ thật nhảm nhí…Mình chỉ là một gã cục cằn tới từ Ohio. Tôi lộ diện đúng địa chỉ and đúng vào khi”.[16] Từ thập niên 30 cho tới đầu trong thời gian 40, ông thường được coi như là ngôi sao sáng lừng danh nhất hành tinh.

Kéo theo chiều gió[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kéo theo chiều gió (phim)

220px Clark Gable in Gone With the Wind trailer

Vai Rhett Butler trong “Kéo theo chiều gió”

Năm 1939, nhờ Rhett Butler – biểu tượng đã gắn sát với ông, Clark Gable nhận được 1 đề cử Oscar nam chính. Kéo theo chiều gió đã đưa công danh sự nghiệp của Gable lên đến mức đỉnh điểm, ông cũng là 1 trong những số ít các nam diễn viên đóng vai chính trong 3 bộ phim truyện dành Oscar phim hay nhất.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Kết duyên với Carole Lombard[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1939, Clark Gable kết duyên cùng Carole Lombard, người bà xã thứ ba and có lẽ rằng là người ông yêu thương nhất trong cuộc sống đa tình của chính mình. Lombard là một ngôi sao sáng thắng lợi bùng cháy rực rỡ and có mức thu nhập cao chót vót. Vẻ đẹp rạng rỡ với mái tóc vàng óng ả cùng đậm chất cá tính của bà đã lôi cuốn Gable hơn khi nào hết. Cặp uyên ương đã có rất nhiều các tháng ngày niềm hạnh phúc nhất trong đời nhưng cũng không kéo lâu hơn. Ngày 16 tháng một năm 1942, sau khoản thời gian hoàn thiện bộ phim truyện thứ 57 and cũng là bộ phim truyện ở đầu cuối của chính mình, Lớn Be or Not lớn Be, Carole gặp tai nạn ngoài ý muốn máy bay tại 1 ngọn núi gần Las Vegas, tổng thể du khách tử nạn, có cả mẹ của Carole and Chuyên Viên quảng cáo của MGM Otto Winkler (chứng nhân đám hỏi của Gable and Lombard).

220px Carole Lombard in Nothing Sacred 2

Gable lâm vào tình thế tuyệt vọng và chán nản trầm trọng trong vô số tháng trời and say khướt xuyên suốt ngày. Tiếp nối ông đã cố vùng lên, dành hết tâm sức cho đóng phim. Ông cũng kết duyên thêm hai đợt nữa nhưng theo lời đồng nghiệp review, con tim ông có vẻ đã chôn theo Lompard.[17]

Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Con cháu[sửa | sửa mã nguồn]

Gable chứa một con gái ngoài giá thú, Judy Lewis,[18], hiệu quả của mối tình vụng trộm với cô diễn viên Loretta Young từ khi ban đầu quay bộ phim truyện Tiếng gọi địa chỉ hoang dã năm 1934. Khi bộ phim truyện làm hậu kì, Young xin nghỉ phép dài hạn and di châu Âu để che giấu việc tôi đã mang thai. Vài ba tháng sau, bà trở về California and sinh con ở Venice. 19 tháng sau khoản thời gian sinh, Loretta lại công khai minh bạch nhận Judy làm con nuôi.

Theo Lewis, Gable đã từng đến đó nhà bà, nhưng không sở hữu và nhận bà là con. Trong những khi cả Gable and Young đều không thừa nhận người con không cha này, thực sự này dường như lại như ai ai cũng biết trong cuốn nhật ký của Lewis Uncommon Knowledge, bà viết rằng bà rất chi là bàng hoàng lúc biết đc điều đó qua các đứa trẻ khác ở trường. Loretta Young không khi nào công nhận điều này, điều mà bà nói là sẽ tựa như thừa nhận một “tội lỗi rất có thể tha thứ”. Mặc dù thế, bà cũng gật đầu cho người sáng tác bộ sách viết điều đó với trường hợp là chỉ đc xuất bản sau khoản thời gian bà qua đời.

Ngày 20 tháng ba năm 1961, Kay Gable sinh người con trai của Gable, John Clark Gable, 4 tháng sau cái chết của ông.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Gable qua đời tại Los Angeles, California vào trong ngày 16 tháng 11 năm 1960 do đột quỵ, mười ngày sau ca mổ xẻ tim. Có rất nhiều kỹ năng thể chất của Gable bị suy nhược đi đôi chút diễn vai chính trong The Misfits, dẫn đến đột tử ngay sau khoản thời gian bộ phim truyện hoàn thiện.

Trong một trong những buổi chất vấn với Louella Parsons sau cái chết của Gable, Kay Gable đã nói “Chưa phải là sự tổn thương sức khỏe thể chất đã giết ông. Đó là thực trạng mệt mỏi, trông chờ, trông chờ and trông chờ không ngừng nghỉ. Ông ấy phải trông chờ toàn bộ mọi cá nhân. Ông nóng giận đến hơn cả di chuyển và đi lại and làm bất kỳ điều gì để luôn bận tối mắt tối mũi.” [19] Monroe bảo rằng cô and Kay cũng biến thành thân nhau lúc làm phim and gọi Clark là “người nam nhi của tất cả chúng ta” [1].

Nhiều người dân suy đoán nguyên do cái chết của Gable là do cơ chế ăn kiêng trước lúc bộ phim truyện ban đầu. Cao 1m85, Gable nặng khoảng chừng 86.2 kg tại thời gian quay Kéo theo chiều gió, nhưng đến cuối thập niên 50s ông đã tiếp tục tăng đến 104.3 kg. Để nhập vai trong The Misfits, ông phải giảm sút 195 lbs (88 kg). Thêm vào chỗ này, sức khoẻ Gable suy giảm đáng chú ý vì hút thuốc trong vô số năm (3 gói thuốc một ngày suốt 30 năm, tương tự như xì gà and lá thuốc). Đến cuối thập niên 50s ông lại liên tiếp uống rượu, tính chất là whisky.

Gable đc mai táng tại Forest Lawn Memorial Park ở Glendale, California ngay ở bên cạnh mộ phần của Carole Lombard.

Doris Day review về đời tư của Gable, “Ông nam tính mạnh mẽ như bất kỳ người nam nhi nào tôi từng biết, xuất phát từ 1 cậu bé cho tới một tráng niên – chính vì sự phối kết hợp này khiến ông biến thành trinh sát với phái nữ” [20]

Robert Taylor mệnh danh Gable “là chàng trai vĩ đại, vĩ đại and khẳng định chắc chắn là 1 trong những các ngôi sao sáng vĩ đại nhất mọi thời buổi, nếu như không phải là vĩ đại nhất. Tôi nghĩ tôi sự thật nghi ngờ rằng liệu còn rất có thể ai nữa như Clark Gable. Anh ta là duy nhất.”[21]

Những phim nhập cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm STT Tên phim Vai diễn Nữ chính Đạo diễn Những diễn viên khác, chú thích
1931 1 The Painted Desert Rance Brett Helen Twelvetrees Howard Higgin Chế tạo Pathé. Với William Boyd, William Farnum, J. Farrell MacDonald.
2 The Easiest Way Nick Feliki, Laundryman Anita Page Jack Conway với Constance Bennett, Adolphe Menjou, Robert Montgomery.
3 Dance, Fools, Dance Jake Luva Joan Crawford Harry Beaumont với Cliff Edwards. Phim thứ nhất trong 8 phim Gable lộ diện cùng Joan Crawford.
4 The Finger Points[1] Louis J. Blanco Fay Wray John Francis Dillon với Richard Barthelmess, Regis Toomey.
5 The Secret Six Carl Luckner Jean Harlow George W. Hill Với Wallace Beery, Johnny Mack Brown. Phim thứ nhất trong 6 phim Gable đóng cùng Jean Harlow.
6 Laughing Sinners Carl Loomis Joan Crawford Harry Beaumont Với Neil Hamilton.
7 A Không lấy phí Soul Ace Wilfong, Gangster Defendant Norma Shearer Clarence Brown Với Leslie Howard, Lionel Barrymore.[22]
8 Night Nurse Nick, the Chauffeur Barbara Stanwyck William A. Wellman Chế tạo Warner Bros.. Với Ben Lyon, Joan Blondell.
9 Sporting Blood Warren “Rid” Riddell Madge Evans Charles Brabin Vai chính thứ nhất của Gable.
10 Susan Lenox (Her Fall và Rise) Rodney Spencer Greta Garbo Robert Z. Leonard Với Jean Hersholt, Alan Hale.
11 Possessed[23] Mark Whitney Joan Crawford Clarence Brown Với Wallace Ford, Marjorie White.
12 Hell Divers CPO Steve Nelson Dorothy Jordan George Hill Với Wallace Beery, Conrad Nagel.
1932 13 Polly of the Circus Reverend John Hartley Marion Davies Afred Santell Với C. Aubrey Smith.
14 Red Dust[24] Dennis Carson Jean Harlow Victor Fleming với Gene Raymond, Donald Crisp.
Mary Astor
15 Strange Interlude Dr. Ned Darrell Norma Shearer Robert Z. Leonard.
16 No Man of Her Own Babe Stewart Carole Lombard Wesley Ruggles Chế tạo Paramount Picture. Phim duy nhất Gable đóng cùng Lombard.
1933 17 The White Sister[25] Giovanni Severi Helen Hayes Victor Fleming Với Louis Stone
18 Hold Your Man Eddie Hall Jean Harlow Sam Wood Với Stuart Erwin.
19 Night Flight[2] Jules Helen Hayes Clarence Brown Với John Barrymore, Lionel Barrymore, Robert Montgomery, Myrna Loy.
20 Dancing Lady Patch Gallagher Joan Crawford Robert Z. Leonard Với Franchot Tone, Robert Benchley, Fred Astaire[26], Nelson Eddy, and Three Stooges.
1934 21 It Happened One Night[27][28] Peter Warne Claudette Colbert Frank Capra Chế tạo Columbia Picture. Với Walter Connolly, Alan Hale. Được coi như 1 trong những các phim hài lãng mạn loại giỏi nhất mọi thời buổi. Gable and Colbert đã đạt được một giải Oscar.
22 Men in White Dr. George Ferguson Myrna Loy Richard Boleslavsky Với Jean Hersholt, Otto Kruger.
Elizabeth Allan
23 Manhattan Melodrama[29] Edward J. “Blackie” Gallagher Myrna Loy W.S. Van Dyke Với William Powell.
24 Chained[3] Michael “Mike” Bradley Joan Crawford Clarence Brown Với Otto Kruger, Stuart Erwin.
25 Forsaking All Others Jeffrey “Jeff”/”Jeffy” Williams Joan Crawford W.S. Van Dyke Với Robert Montgomery, Charles Butterworth, Billie Burke.
1935 26 After Office Hours James “Jim” Branch Constance Bennett Robert Z. Leonard Với Stuart Erwin, Billie Burke.
27 Tiếng gọi địa chỉ hoang dã Jack Thornton Loretta Young[30] William A. Wellman Chế tạo 20th Century, ban hành tại Mỹ United Artists. Với Jack Oakie, Reginald Owen. Chuyển thể từ tiểu thuyết của Jack London.
28 Trung Hoa Seas Captain Alan Gaskell Jean Harlow Tay Garnett Với Wallace Beery, Lewis Stone, C. Aubrey Smith, Robert Benchley.
Rosalind Russell
29 Mutiny on the Bounty[31][32] Lt. Fletcher Christian Frank Lloyd Với Charles Laughton, Franchot Tone, Donald Crisp, Henry Stephenson. 1 trong các các phim đình đám nhất của Gable. Ông đã đạt được một đề cử Oscar cho vai diễn này.[33] Chuyển thể từ tiểu thuyết của Charles Nordhoff and James Norman Hall.
1936 30 Wife vs. Secretary Van Stanhope Jean Harlow Clarence Brown Với May Robson, James Stewart.
Myrna Loy
31 San Francisco [34] Blackie Norton Jeanette MacDonald W.S. Van Dyke Với Spencer Tracy, Jack Holt, Shirley Ross.
32 Cain và Mabel Larry Cain Marion Davies Lloyd Bacon Ban hành bởi Warner Bros..
33 Love on the Run Michael “Mike” Anthony Joan Crawford W.S. Van Dyke Với Franchot Tone, Reginald Owen.
1937 34 Parnell Charles Stewart Parnell Myrna Loy John M. Stahl Với Edna May Oliver. Generally regarded as Gable’s worst phim.[35]
35 Saratoga Duke Bradley Jean Harlow[36] Jack Conway Với Lionel Barrymore, Frank Morgan. Phim ở đầu cuối của Gable với Harlow.
1938 36 Test Pilot [37] Jim Lane Myrna Loy Victor Fleming Với Spencer Tracy, Lionel Barrymore.
37 Too Hot lớn Handle[4] Christopher “Chris” Hunter Myrna Loy Jack Conway Với Walter Connolly,Walter Pidgeon. Gable’s last phim với Loy.
1939 38 Idiot’s Delight Harry Van Norma Shearer Clarence Brown Chuyển thể từ vở kịch của Robert Sherwood.
39 Kéo theo chiều gió[38][39] Rhett Butler Vivien Leigh Victor Fleming[40] Đồng chế tạo Selznick-International and MGM. Phim màu. Với Leslie Howard, Thomas Mitchell, Hattie McDaniel. Chuyển thể từ tiểu thuyết của Margaret Mitchell. 1 trong các các bộ phim truyện kinh hồn bạt vía của điện ảnh xã hội. Gable nhận được một đề cử Oscar cho vai diễn đình đám nhất của chính mình.
Olivia de Havilland
Năm STT Tên phim Vai diễn Nữ chính Đạo diễn Những diễn viên khác, chú thích
1940 40 Strange Cargo André Verne Joan Crawford Frank Borzage Với Ian Hunter, Peter Lorre, Paul Lukas. Bộ phim truyện ở đầu cuối của Gable đóng cùng Crawford.[41]
41 Boom Town Big John McMasters Claudette Colbert Jack Conway Với Spencer Tracy, Frank Morgan, Lionel Atwill.
Hedy Lamarr
42 Comrade X McKinley B. “Mac” Thompson Hedy Lamarr King Vidor Với Oscar Homolka.
1941 43 They Met in Bombay Gerald Meldrick Rosalind Russell Clarence Brown Với Peter Lorre, Reginald Owen.
44 Honky Tonk “Candy” Johnson Lana Turner Jack Conway Với Frank Morgan, Marjorie Main, Albert Dekker. Bộ phim truyện thứ nhất của Gable với Turner.
Claire Trevor
1944 45 Somewhere I’ll Find You Jonathan “Jonny” Davis Lana Turner Wesley Ruggles Với Robert Sterling, Reginald Owen. Bộ phim truyện ở đầu cuối của Gable trước lúc du nhập Không quân Đất nước Hoa Kỳ trong Thế chiến II.
1945 46 Adventure Harry Patterson Greer Garson Victor Fleming Với Joan Blondell and Thomas Mitchell. Bộ phim truyện thứ nhất của Gable sau thế chiến II.
1947 47 The Hucksters Victor Albee Norman Deborah Kerr Jack Conway Với Sydney Greenstreet, Adolphe Menjou, Keenan Wynn, Edward Arnold.
Ava Gardner
1948 48 Homecoming[5] Col. Ulysses Delby “Lee” Johnson Lana Turner Mervyn LeRoy Với John Hodiak.
Anne Baxter
49 Command Decision Brig. Gen. K.C. ‘Casey’ Dennis _ Sam Wood Với Walter Pidgeon, Van Johnson, Brian Donlevy, Charles Bickford, John Hodiak, Edward Arnold, Marshall Thompson.
1949 50 Any Number Can Play[6] Charley Enley Kyng Alexis Smith Mervyn LeRoy Với Wendell Corey,Audrey Totter, Frank Morgan.
Năm STT Tên phim Vai diễn Nữ chính Đạo diễn Những diễn viên khác, chú thích
1950 51 Key lớn the City[7] Steve Fisk Loretta Young George Sidney Với Frank Morgan,[42] James Gleason, Marilyn Maxwell, and Raymond Burr.
52 Lớn Please a Lady[8] Mike Brannan Barbara Stanwyck Clarence Brown Với Adolphe Menjou, Will Geer, Roland Winters.
1951 53 Across the Wide Missouri Flint Mitchell María Elena Marqués William Wellman Phim màu. Với John Hodiak, Ricardo Montalban, Adolphe Menjou, Jack Holt.
54 Callaway Went Thataway Himself _ Norman Panama Với Fred MacMurray, Dorothy McGuire, Howard Keel. Gable, Esther Williams, and Elizabeth Taylor đóng tầm quan trọng khách mời.
Melvin Frank
1952 55 Lone Star Devereaux Burke Ava Gardner Vincent Sherman Với Broderick Crawford.
1953 56 Never Let Me Go[9] Philip Sutherland Gene Tierney Delmer Daves Với Richard Haydn.
57 Mogambo[43][44] Victor Marswell Ava Gardner John Ford Phim màu quay tại Châu Phi. Với Donald Sinden.
Grace Kelly
1954 58 Betrayed Col. Pieter Deventer Lana Turner Gottfried Reinhardt Với Victor Mature, Louis Calhern. Bộ phim truyện ở đầu cuối của Gable trong HĐ với MGM.
1955 59 Soldier of Fortune Hank Lee Susan Hayward Edward Dmytryk Chế tạo 20th Century-Fox. Với Michael Rennie, Gene Barry. Phim màn ảnh rộng and màu hạng sang. Bộ phim truyện màn ảnh rộng thứ nhất của Gable.
60 The Tall Men Colonel Ben Allison Jane Russell Raoul Walsh Chế tạo 20th Century-Fox. Với Robert Ryan, Cameron Mitchell. Phim màn ảnh rộng and màu hạng sang.
1956 61 The King và Four Queens Dan Kehoe Eleanor Parker Raoul Walsh Chế tạo Russ-Feild-Gabco. Với Jo Van Fleet, Jean Willes, Barbara Nichols.
1957 62 Band of Angels Hamish Bond Yvonne de Carlo Raoul Walsh Chế tạo Warner Bros.. Với Sidney Poitier, Efrem Zimbalist, Jr., Patric Knowles.
1958 63 Run Silent Run Deep Cmdr. “Rich” Richardson Mary LaRoche Robert Wise Chế tạo Hecht-Hill-Lancaster. Với Burt Lancaster, Jack Warden, Don Rickles.
64 Teacher’s Pet James Gannon/James Gallangher Doris Day George Seaton Chế tạo Paramount. Với Gig Young, Mamie Van Doren, Nick Adams.
1959 65 But Not for Me Russell “Russ” Ward Carroll Baker Walter Lang Chế tạo Paramount. Với Lee J. Cobb. Lilli Palmer
Năm STT Tên phim Vai diễn Nữ chính Đạo diễn Những diễn viên khác, chú thích
1960 66 It Started in Naples Michael Hamilton Sophia Loren Melville Shavelson Chế tạo Paramount. Với Vittorio De Sica.
1961 67 The Misfits Gaylord “Gay” Langdon Marilyn Monroe John Huston Chế tạo Seven Arts-John Huston. Với Montgomery Clift, Thelma Ritter, Eli Wallach. Bộ phim truyện ở đầu cuối của Gable,[45] ban hành trước lúc ông chết.
Năm STT Tên phim Năm STT Tên phim
1931 1 The Christmas Party 1939 10 Màn hình hiển thị Snapshots: Stars on Horseback
2 Jackie Cooper’s Birthday Party 11 Hollywood Hobbies
1932 3 Màn hình hiển thị Snapshots 1940 12 Northward, Ho![46]
1933 4 Hollywood on Parade No. 9 1941 13 You Can’t Fool a Camera
1935 5 Hollywood Hobbies 1943 14 Show Business at War
6 Starlit Days at the Lido 15 Wings Up
1937 7 Hollywood Party 1943 16 Màn hình hiển thị Snapshots: Hollywood in Uniform
8 The Candid Camera Story (Very Candid of

the Metro-Goldwyn-Mayer Pictures 1937 Convention

1950 17 Màn hình hiển thị Actors
1938 9 Hollywood Goes lớn Town

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ aă

    Spicer, Chrystopher (2002). Clark Gable: Biography, Filmography, Bibliography. Jefferson, North Carolina: McFarland & Company. ISBN 0-7864-1124-4.

  2. ^ Van Neste, Dan (1999). “Clark Gable Reconstructed Birthhome: Fit For A King”. Classic Images. Truy vấn ngày 3 tháng tư năm 2008.
  3. ^ “Ancestors of Clark Gable – Genealogy.com”. Bản gốc tàng trữ ngày 15 tháng một năm 2009. Truy vấn ngày 23 tháng tư năm 2009.
  4. ^ aăHarris, Warren G. (2002). Clark Gable: A Biography. Thủ đô New York: Harmony. ISBN 0609604953.
  5. ^ Harris, p.7.
  6. ^ Harris, p.24.
  7. ^ Harris, p.29.
  8. ^ Harris, p.36.
  9. ^ Harris, p.49.
  10. ^ Turner Classic Movies (2006-09-01). Leading Men: The 50 Most Unforgettable Actors of the Studio Era. Chronicle Books. ISBN 0811854671.
  11. ^ Harris, p.80.
  12. ^ Harris, p.82.
  13. ^ Harris, p. 179.
  14. ^ James Kotsabilas-Davis & Myrna Loy (ngày 31 tháng 10 năm 1998). Myrna Loy: Being và Becoming. Primus, Donald I Fine Inc. tr. 94. ISBN 1556111010.Quản lý và điều hành CS1: dùng tham số người sáng tác (kết nối)
  15. ^ Gable’s Oscar recently drew a top bid of $607.500 from Steven Spielberg, who promptly donated the statuette lớn the Academy of Motion Picture Arts và Sciences. (Colbert’s Oscar for the same film was offered for auction by Christie’s on 9 tháng sáu năm 1997, but no bids were made for it.)
  16. ^ Harris, p. 185.
  17. ^ Esther Williams & Diehl, Digby (1999). The Million Dollar Mermaid. Thủ đô New York: Simon & Schuster. ISBN 0684852845.Quản lý và điều hành CS1: dùng tham số người sáng tác (kết nối)
  18. ^ “Official site of Judy Lewis”. Bản gốc tàng trữ ngày 12 tháng 12 năm 2009. Truy vấn ngày 3 tháng năm năm 2009.
  19. ^ Harris, pp 378-379
  20. ^ Harris, p. 352.
  21. ^ “News, Photos, Audio”. UPI. Truy vấn 24 tháng chín năm 2015.
  22. ^ Barrymore đã đạt được 1 giải Oscar nhờ vai diễn này.
  23. ^ Joan Crawford cũng đóng vai chính trong bộ phim truyện trong tương lai Possessed nhưng chưa được lưu ý bằng bộ trước đây.
  24. ^ Sửa lại với tên Mogambo (1953) and Gable vẫn lộ diện trong vai chính.
  25. ^ Previously phimed in 1922 with Ronald Colman in the Gable role.
  26. ^ Astaire’s phim debut.
  27. ^ Best Picture Academy Award winner for 1934.
  28. ^ Remade as You Can’t Run Away From It (1956) với Jack Lemmon in the Gable role.
  29. ^ Reputedly the phim that gangster John Dillinger saw just before being gunned down.
  30. ^ Young và Gable had an affair during the making of this phim, resulting in Young bearing Gable’s child.
  31. ^ Best Picture Academy Award winner for 1935.
  32. ^ Other versions of the Bounty mutiny include In the Wake of the Bounty (1933), Mutiny on the Bounty (1962), và The Bounty (1984) với, respectively, Errol Flynn, Marlon Brando, và Mel Gibson in the Gable role.
  33. ^ Laughton and Tone also received Academy Award nominations.
  34. ^ Lost the 1936 Best Picture Academy Award lớn The Great Ziegfeld
  35. ^ “This performance was one of the real disasters of his career, prompting many indignant letters from admirers.” – Gabe Essoe. The phims of Clark Gable. Secaucus, NJ. Citadel Press, 1970.
  36. ^ Harlow died during production of this phim. The phim was completed using her stand-in Mary Dees.
  37. ^ Lost the 1938 Best Picture Academy Award lớn You Can’t Take It Với You
  38. ^ Best Picture Academy Award winner winner for 1939.
  39. ^ A made-for-Ti vi sequel entitled Scarlett (1994) starred Timothy Dalton in the Gable role.
  40. ^ Although Fleming is the phim’s sole credited director, portions of the phim were directed by George Cukor and Sam Wood.
  41. ^ Although Gable received top billing in the advertisements for this film, Crawford has top billing in the film’s opening credits.
  42. ^ This was Morgan’s last phim. He died before the phim was released.
  43. ^ Previously phimed as Red Dust (1932), also với Gable in the lead.
  44. ^ “Magambo” is the Swahili word for “Passion.”
  45. ^ Cũng là bộ phim truyện ở đầu cuối của Marilyn Monroe.
  46. ^ A behind-the-scenes look at the making of Northwest Passage (1940) starring Spencer Tracy.

Tư liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bret, David (2007-09-10). Clark Gable: Tormented Star. Thủ đô New York: Carroll & Graf Publishers. ISBN 0-7867-2093-X.
  • Harris, Warren G. (2002). Clark Gable: A Biography. Thủ đô New York: Harmony. ISBN 0-609-60495-3.
  • Lewis, Judy. Uncommon Knowledge (book by Gable’s daughter with Loretta Young). (Pocket Books/Simon & Schuster 1994), ISBN 0-671-70019-7
  • Spicer, Chrystopher (2002). Clark Gable: Biography, Filmography, Bibliography. Jefferson, North Carolina: McFarland & Company. ISBN 0-7864-1124-4.
  • Clark Gable in the 8th Air Force, Air Power History, Spring 1999

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Clark Gable trên IMDb
  • Clark Gable trên trang Ti vi.com
  • Snopes on the false rumor of Gable killing a pedestrian while he was driving drunk
  • Combat America trên Internet Archive:

    • Part 1
    • Part 2
    • Part 3
    • Part 4
  • Clark Gable: Biographie, filmographie, galerie, etc (tiếng Pháp)
  • Official Site of daughter Judy Lewis with extensive Clark Gable photo gallery Tàng trữ 2009-12-12 tại Wayback Machine

Bài Viết: Clark Gable là gì? Chi tiết về Clark Gable mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Bùi Văn Nam là gì? Chi tiết về Bùi Văn Nam mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.