Chu Tuyên vương là gì? Chi tiết về Chu Tuyên vương mới nhất 2022

Chu Tuyên Vương
周宣王
Vua China (chi tiết…)
King Xuan of Zhou.jpg
Thiên tử nhà Chu
Trị vì 828 TCN – 782 TCN

069309ef635a603a05f196f573c3259f

Nhiếp chính Chu Triệu cộng hòa
Nhiệm kỳ trước đó Chu Lệ vương
Tiếp sau Chu U vương
Thông báo chung
Thê thiếp Khương hậu
Nữ Cưu
Hậu duệ
Tên húy
Cơ Tĩnh (姬靜)
Thụy hiệu
Tuyên Vương (宣王)
Miếu hiệu
Thế Tông
Triều đại Nhà Tây Chu
Phụ vương Chu Lệ vương
Thân mẫu Thân Khương
Sinh 846 TCN
Mất 782 TCN
Hạo Kinh, Nhà Chu, China

Chu Tuyên Vương (chữ Hán: 周宣王; 846 TCN – 782 TCN) là vị quân chủ thứ 11 của nhà Chu trong lịch sử dân tộc China. Ông trị vì tổng số 46 năm, từ thời điểm năm 828 TCN đến năm 782 TCN. Ông kế vị sau 14 năm Chu Lệ vương lưu vong ở đất Di, kết thúc tiến trình Chu Triệu cộng hòa không tồn tại quân chủ.

Sau khoản thời gian kế vị, Tuyên vương trọng dụng Triệu Mục công, Doãn Cát Phủ, Trọng Sơn Phủ, Trình Bá Hưu Phụ, Quắc Văn công, Thân bá, Hàn hầu, Hiển Phụ, Nhưng Thúc những đại thần kỹ năng để Phục hồi cơ nghiệp nhà Chu sau khá nhiều năm bị hủy diệt bởi Lệ vương. Ông thắt chặt và chấn chỉnh quân đội, chính trị, mang quân thảo phạt Hiểm Doãn, Tây Nhung, Hoài Di, nước Từ and nước Sở. Quốc lực nhà Chu Phục hồi phần nhiều, đc sử xưng gọi là Tuyên vương trung hưng (宣王中兴).

Tuy vậy vào trong thời điểm cuối đời, Tuyên vương lạm dụng binh sỹ, dẫn đến đại bại trong trận Thiên mẫu chi chiến (千亩之战), rồi sát hại công thần, lạm dụng hình luật. Sử quan thời Minh nhận định và đánh giá:“Chu Tuyên vương tuy bình Hoài Di, trong có Trọng Sơn Phủ, ngoài có Thân bá phò cứu, nhưng không thành thịnh thế, rồi bị lễ nhạc làm vơi đức, không cày tịch điền ở Thiên Mẫu, thua trận ở Thái Nguyên, giết Đỗ Bá, không nghe Quắc công khuyên ngăn, cho nên vì vậy cái trung hưng không hoàn mĩ”[1].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Tuyên vương tên thật là Cơ Tĩnh (姬靜). Ông là thiếu niên của Chu Lệ vương, vị quân chủ thứ 10 của Triều đại nhà Chu. Mẹ ông là Vương hậu Thân Khương (申姜), công chúa nước Thân. Không những thế ông còn một em trai tức là Trịnh Hoàn thành công việc.

Nương nhờ Triệu Công[sửa | sửa mã nguồn]

Do vua cha Chu Lệ vương dùng chế độ bạo ngược and đàn áp dân chúng, năm 841 TCN, nhân dân nổi dậy chống lại triều đình, lật đổ Lệ Vương. Lệ Vương phải bỏ chạy đến đất Di.[2]

Thái tử Cơ Tĩnh bị quân khởi nghĩa tìm kiếm và săn lùng. Trong cơn nguy cấp, Cơ Tĩnh trốn vào trong nhà đại thần Triệu Mục công. Quân khởi nghĩa nghe tin bèn đến vây nhà Triệu công đòi nộp thái tử. Triệu công bèn mang con mình ra thế mạng cho Cơ Tĩnh. Quân khởi nghĩa tưởng là thái tử, bèn giết chết con Triệu công. Cơ Tĩnh đc thoát nạn. Nhân dân hả cơn tức, binh khởi nghĩa giải tán.

Chu Định công (周定公) and Triệu Mục công cùng với nhau quản lý và điều hành việc triều chính trong 14 năm, từ thời điểm năm 841 TCN đến năm 828 TCN, gọi là thời kỳ Cộng Hòa. Trong 14 năm đó Cơ Tĩnh ẩn náu ở trong nhà Triệu công.[3]

Năm 828 TCN, Chu Lệ vương qua đời. Thái tử Cơ Tĩnh đc Triệu công lập lên nối ngôi, tức là Chu Tuyên vương.

Chấn hưng tổ quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau rất nhiều năm loạn lạc, quốc lực nhà Chu đã suy yếu, dân chúng li biệt. Chu Tuyên vương lên ngôi, cho duy tu vương cung, yên định lòng dân, bãi bỏ binh đao, chú tâm quan trọng lễ nhạc, trọng dụng những cựu thần như Triệu Mục công, Doãn Cát Phủ, Quắc Văn công, Hàn hầu, Trọng Sơn Phủ, Thân bá…, bình Hiểm Doãn, đánh Hoài Di, Tây Nhung. theo đó thế nước lại hùng mạnh, uy thế thiên tử trong thời điểm tạm thời đc Phục hồi, chư hầu lại triều kiến vua Chu. Sử sách gọi là Tuyên vương trung hưng.[2]

Xung đột ở biên cương[sửa | sửa mã nguồn]

Tộc Hiểm Doãn (獫允) là một bộ tộc miền Bắc, từ thời Chu Lệ vương thường quấy nhiễu Cafe Trung Nguyên, từng đánh tới tận Hạo Kinh nhưng bị đẩy lui.

Năm 823 TCN, Hiểm Doãn đợt nữa đánh Hạo Kinh, đóng quân ở Tiêu Hoạch (nay là Thiểm Tây), uy hiếp kinh đô. Tuyên vương sai Doãn Cát Phủ đem quân đi đánh, đánh thắng quân Hiểm Doãn, truy kích đến vùng Thái Nguyên (nay thuộc Cam Túc). Tuyên vương cho xây thành ngăn quân giặc.

Năm 816 TCN, ông sai Quắc Quý Tử Bạch đánh Hiểm Doãn, vượt qua quân Hiểm Doãn ở Lạc Thủy, chém 500 quân. theo đó nhà Chu dẹp xong mối nguy phía Bắc.

Đông chinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hoài Di (淮夷), còn xưng Hoàn Nam Di hay Nam Di, vốn là bộ tộc nhánh nam Đông Di, từ thời Chu Mục Vương thì mở đầu cường thịnh, sau xâm nhập khẩu xung quanh vị trí Y Thủy and Lạc Thủy. Thời Chu Lệ vương, Ngạc hầu liên quân với Hoài đánh nhà Chu. Chu Lệ vương sai Quắc công Trường Phụ chinh đánh, diệt nước Ngạc. Tiếp đến Hoài Di không thần phục.

Năm 823 TCN, Chu Tuyên vương sai Doãn Cát Phủ đánh Hoài Di, ban lệnh Hoài Di khinh thường thiên tử, quấy nhiễu biên cương. Sau Hoài Di bỏ nộp cống, Tuyên vương Sai Triệu Mục công dẫn quân chinh phạt, bạn bè với Tề, Kỉ, Lai đánh Hoài Di. theo đó Hoài Di phải xin hòa and cống nộp đều đặn.

Nước Từ thời Tây Chu là cường quốc Đông Di, thường chống đối thiên tử. Chu Tuyên Vương sai khanh sĩ Nam Trọng (南仲) and thái sư Hoàng Phụ (皇父) đem quân đánh Từ. Vua Từ phải thần phục.

Nước Sở là nước xa lánh về hướng phía đông, đc vua Chu phong tước Tử. Mặc dù thế tiếp nối nước Sở bỏ triều cống. Chu Tuyên vương áp dụng nguyên lão trọng thần Phương Thúc (方叔) đem binh xa đánh Sở, giành thắng lợi. Tấn Mục hầu đem quân cứu, sau khoản thời gian thắng lợi, Tuyên vương đem chiến lợi phẩm chiếm được khuyến mãi ngay vua Tấn. theo đó hướng phía đông tạm yên.

Phân phong chư hầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Tuyên vương sau khoản thời gian lên ngôi, thực hiện phân phong chư hầu. Tuyên Vương phong Triệu Mục công tại đất Tạ (nay là Hà Nam), khai hoang lập ấp. Sau ông đem Thân bá dời sang đất Thử, lập nước Thân, Thân bá biến thành trọng thần của Chu thiên tử[4]. Tiếp đến, Tuyên vương phong Hàn hầu ở Hàn Thành (nay là phía đông bắc Hà Bắc), kiến lập nước Hàn[5].

Năm 806 TCN, Chu Tuyên vương phong em là Hữu ở đất Trịnh (nay là phía Đông Thiểm Tây), kiến lập nước Trịnh.[6], phong cho Trọng Sơn Phủ ở đất Phiền (nay là đông nam Tây An), tức nước Phiền [7](樊).

Can thiệp nước Lỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 816 TCN, quốc chủ nước Lỗ là Lỗ Vũ công cùng hai con là Cơ Quát and Cơ Huy vào triều kiến Chu Tuyên vương[2]. Tuyên vương nhận định và đánh giá cao Cơ Huy and ép Lỗ công lập Huy làm Thế tử. Trọng Sơn Phủ khuyên ông chớ nên can thiệp and bỏ trưởng lập ấu nhưng Tuyên vương không nghe. Lỗ Vũ công theo lời Tuyên vương bỏ Quát lấy Huy làm Thế tử. Tiếp đến chưa lâu, Lỗ Vũ công trở về nước rồi bệnh chết, Cơ Huy lên làm quốc chủ tức Lỗ Ý công, vấn đề đó làm con Cơ Quát là Bá Ngự bất mãn.

Mười năm tiếp theo, Bá Ngự giết Ý công rồi cướp ngôi. Chu Tuyên vương nghe tin rất chi là khó tính, năm 796 TCN ông đem quân can thiệp, giết Bá Ngự rồi lập em Lỗ Ý công là công tử Xứng làm vua (Lỗ Hiếu công)[8], từ đó nước Lỗ mới không thay đổi. Cũng bởi Vấn đề này đã khiến cho chư hầu đã không còn gì tôn trọng Thiên tử nữa.

Giết công thần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 785 TCN, Chu Tuyên vương giết đại phu Đỗ Bá. Theo Tỉnh Thái Bình nhiễm ký (太平广记), Chu Tuyên vương sủng ái Nữ Cưu (女鸠), người tính tình lẳng lơ, giở trò bẫy tình Đỗ Bá. Đỗ Bá không tuân theo, Nữ Cưu bèn gièm pha Đỗ Bá với Tuyên vương. Tuyên vương nghe theo, nhưng tiếp nối Tả Nho khuyên can nên ông chỉ đày Đỗ Bá đến Vu Tiêu (nay thuộc Hà Nam), sau sai người ám sát.

Con Đỗ Bá là Thấp Thúc[9] trốn sang nước Tấn, biến thành thủy tổ Phạm Thị, một trong các Tấn quốc lục khanh trong tương lai.

Cuộc chiến tranh với Khuyển, Nhung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 824 TCN, Tuyên vương sai Tần Trọng đem quân đánh Nhung, năm 822 TCN, Tần Trọng bị Tây Nhung giết[10], Tuyên vương triệu con Tần Trọng là Doanh Kì, cấp 7000 quân đánh Nhung, công dụng Tây Nhung thất bại. Tuyên vương phong Doanh Kì làm Tây Thùy đại phu, phong cho đất cũ của Đại Lạc[11], đó là cơ sở cho việc dựng nên của nước Tần.

Năm 805 TCN, Tấn Mục hầu nghe lệnh ông, đem quân đánh Nhung, năm 802 TCN, thắng quân Nhung ở Thiêm Mẫu (nay thuộc Sơn Tây).[12]

Hằng năm, thiên tử thường tới Thiên Mẫu làm lễ tịch điền, nhưng Tuyên vương bỏ không làm. Quắc Văn công khuyên Tuyên vương chớ nên bỏ lệ nhưng vua không nghe theo.[2]

Năm 797 TCN, Tuyên vương đánh Thái Nguyên, giành thắng lợi. Mặc dù thế năm 792 TCN, lại thất bại trước quân Nhung.[10]

Năm 789 TCN, quân hai tộc Khuyển, Nhung[13] vào đánh nhà Chu. Chu Tuyên vương mang quân ra đón đánh địch. Phía 2 bên giao chiến ở đất Thiên Mẫu, Tuyên Vương bị bại trận, cánh quân khu vực miền nam bị đánh thương vong, tan rã.

Chu Tuyên vương muốn mộ dân ở Thái Nguyên để bổ sung cập nhật cho cánh quân bị mất. Trọng Sơn Phủ khuyên ông chớ nên động binh gây chiến nữa để yên dân nhưng Tuyên vương không nghe.[2]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 782 TCN, Chu Tuyên vương còn chưa kịp đánh phục thù Khuyển Nhung thì qua đời. Ông ở ngôi toàn bộ tổng thể 46 năm.

Thái tử Cung Tinh lên nối ngôi, tức là Chu U vương. Triều đại nhà Chu đến đây thì bại vong.

Đánh giá và nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Nguyên Cát có bình chọn về ông như sau: Chu Tuyên vương bình Hoài Di, Đường Thái Tông cầm Hiệt Lợi, đương thời giảm hình phạt”.

Trâu Y cũng xuất hiện bình chọn rằng: “Hạ có Nợ Khang, Thương có Vũ Đinh, Chu có Tuyên vương, Hán có Thế Tổ, Đường có Túc Tông, lúc nội địa có loạn, đã dẹp trừ đc, trung hưng Triều đại, lập lại thái miếu, cho dân an viễn”.

Mặc dù thế, có cũng xuất hiện số quan điểm chê trách ông đối ngoại áp dụng binh mà thất bại liên miên, lạm sát đại thần. Hoàng Quỳnh thời Hán chê Tuyên vương:“Chu Tuyên vương không cày tịch điền ở Thiên Mẫu, Quắc Văn công khuyên mà hoàn toàn không nghe, lại quân Nhung dấy loạn, tổn hại đến thanh danh của Tuyên vương trung hưng”.

Trong Đông Chu liệt quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Tuyên vương lộ diện trong hồi 1 của Đông Chu liệt quốc. Công danh sự nghiệp của ông chưa được biểu đạt đúng chuẩn trong tiểu thuyết của Phùng Mộng Long.

Từ đó, cuối thời Tuyên vương, có đứa trẻ hát bài ca:”nguyệt tương thăng, nhật tương một, tang cung ki đại, kỉ vong Chu quốc”. Chu Tuyên vương ra lệnh toàn quốc nghiêm cấm áp dụng tang cung, giao cho Đỗ Bá khảo sát điều tra. Tiếp đến Đỗ Bá khảo sát điều tra chưa được bị ông giết, Tả Nho can ngăn nhưng Tuyên vương cũng không nghe. Tả Nho về nhà tự tử. Tiếp đến lúc Tuyên vương đi săn, Đỗ Bá, Tả Nho hiện về bắn ông, Tuyên vương hoảng loạn lâm bệnh qua đời.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chu Triệu cộng hòa
  • Chu Lệ Vương
  • Chu U Vương

Bài viết liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên các điều không biết – Chu bản kỷ, Bùi Hạnh Cẩn – Việt Anh dịch (2005), Nhà xuất bản Văn hoá thông báo
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, Nhà xuất bản Thanh Hoá
  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên Tần bản kỉ, Lỗ Chu công thế gia, Tấn thế gia, Trịnh thế gia

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Minh Thế Tông thực lục
  2. ^ aăâbcSử ký, quyển 4, Chu bản kỉ
  3. ^ Có thuyết nói Cung bá Hòa thay vua Chu coi chính vì sự, sau khoản thời gian Lệ vương mất, Cung bá Hòa trả chính quyền trực thuộc cho Tuyên vương rồi lui về nước Vệ
  4. ^ Sử ký, Tề Thái công thế gia nhận định rằng đất Thân nằm tại vị trí Nam Uyển huyện
  5. ^ Đây là nước Cổ Hàn thời Xuân Thu, không hẳn một trong các Chiến quốc thất hùng trong tương lai
  6. ^ Sử ký, Trịnh thế gia
  7. ^ Sử ký chính đạo, Chu bản kỉ
  8. ^ Sử ký, Lỗ Chu công thế gia
  9. ^ Kim bản trúc thư kỉ niên· Chu kỉ
  10. ^ aăHậu Hán thư, quyển 87, Tây Khương truyện
  11. ^ Sử ký, quyển 5, Tần bản kỉ
  12. ^ Sử ký, quyển 39, thiên Tấn thế gia
  13. ^ Sử ký, Chu bản kỷ

Bài Viết: Chu Tuyên vương là gì? Chi tiết về Chu Tuyên vương mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Pinkfong là gì? Chi tiết về Pinkfong mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.