André Silva (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995) là gì? Chi tiết về André Silva (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995) mới nhất 2022

André Silva
Mex-por-16 (1cropped).jpg

Silva trong màu áo đội tuyển Bồ Đào Nha năm 2017

Thông báo cá thể
Tên vừa đủ André Miguel Valente da Silva
Ngày sinh 6 tháng 11, 1995 (25 tuổi)
Vị trí sinh Baguim do Monte, Bồ Đào Nha
Độ cao 1,88 m (6 ft 2 in)
Vị trí đặt Tiền đạo
Thông báo câu lạc bộ

Đội hiện giờ

RB Leipzig
Số áo 33
Công danh và sự nghiệp cầu thủ trẻ
2003–2007 Salgueiros
2007–2008 Boavista
2008–2010 Salgueiros
2010–2011 Padroense
2011–2014 Porto
Công danh và sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp và bài bản*
Năm Đội ST (BT)
2013–2016 Porto B 84 (24)
2015–2017 Porto 41 (17)
2017–2020 Milan 25 (2)
2018–2019 → Sevilla (mượn) 27 (9)
2019–2020 → Eintracht Frankfurt (mượn) 25 (12)
2020–2022 Eintracht Frankfurt 32 (28)
2022– RB Leipzig (0)
Đội tuyển non sông
2009–2010 U-16 Bồ Đào Nha 12 (2)
2010–2011 U-17 Bồ Đào Nha 11 (2)
2011–2012 U-18 Bồ Đào Nha 10 (0)
2012–2014 U-19 Bồ Đào Nha 24 (16)
2014–2015 U-20 Bồ Đào Nha 10 (8)
2015–2016 U-21 Bồ Đào Nha 3 (4)
2016– Bồ Đào Nha 43 (16)
* Số trận ra sân and số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp và bài bản chỉ được xem cho giải non sông and đúng đắn tính đến 22 tháng năm năm 2022
‡ Số lần khoác áo đội tuyển non sông and số bàn thắng đúng đắn tính đến 27 tháng sáu năm 2022

André Miguel Valente da Silva (dịch âm tiếng Bồ Đào Nha: [ɐdɾɛ siwvɐ]; sinh ngày 6 tháng 11 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha chơi ở chỗ tiền đạo cho RB Leipzig and đội tuyển non sông Bồ Đào Nha.

Công danh và sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Silva sinh tại Baguim Monte, một giáo xứ bản địa trong Gondomar, and mở đầu chơi bóng đá với FC Porto. Anh đã có rất nhiều một không quá lâu với Boavista FC, nhưng lập cập trở về câu lạc bộ của bản thân.

Silva trình làng công danh và sự nghiệp của bản thân với FC Porto and đã ký kết HĐ vào năm 2011 ở tuổi 15. Vào trong ngày 12 tháng tám năm 2013, anh đã lộ diện lần thứ nhất trong công danh và sự nghiệp của bản thân, đến sửa chữa cho Tozé trong thắng lợi 3-2 trước SC Beira-Mar trong giải vô địch Segunda Liga.

Silva đã kết thúc mùa thứ 2 của bản thân với 34 trận and 7 bàn thắng, cứu Porto B đứng ở chỗ thứ 13 ở cấp thứ 2. Điểm gây chú ý gồm 1 cú đúp vào trong ngày 4 tháng một năm 2015 trong trận thắng 3-0 trước Vitória de Guimarães B.

Silva đã có rất nhiều trận đấu ra sân cho đội thứ nhất vào trong ngày 29 tháng 12 năm 2015, chơi hết 90 phút trong trận thua 1-3 trước CS Marítimo của Taça da Liga. Xuất hiện thêm thứ nhất của anh tại Primeira Liga xẩy ra bốn ngày tiếp đến, khi anh sửa chữa Vincent Aboubakar trong 20 phút ở đầu cuối trong thất bại 0-2 trước Sporting Clube de Portugal.

Silva mở đầu campaign năm Primeira Liga 2015-16 là tiền đạo dự bị sau Aboubakar and Dani Osvaldo, and cũng biến thành xấu đi trong thời điểm tháng 1 năm 2016 với việc chọn mua lại Suk Hyun-jun and Moussa Marega. Mặc dù vậy, sau José Peseiro thay Julen Lopetegui là giảng dạy viên, anh đã nhận được được không ít thời cơ hơn and ghi bàn thắng giải đấu thứ nhất của bản thân trong thắng lợi 4-0 nhà trước Boavista, trong trận đấu ở đầu cuối. Anh cũng mở đầu trận chung cuộc Taça de Portugal ngày 22 tháng năm.

Silva mở đầu vào năm Primeira Liga 2016-17, với các bàn thắng trong hai trận thứ nhất của bản thân với Rio Ave FC and GD Estoril Praia, trong những lúc ghi bàn trong trận hòa 1-1 của Porto với AS Roma cho trận play-off của UEFA Champions League. Vào trong ngày 21 tháng tám năm 2016, anh ký một HĐ mới 5 năm, trong những số ấy chứa một luật pháp giải phóng giá trị 60 triệu euro.

Công danh và sự nghiệp nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

220px Russia Portugal CC2017 %288%29

Silva (trái) and Viktor Vasin của tuyển Nga tại Confederations Cup 2017

Silva đã tranh tài cho Bồ Đào Nha ở mọi Lever trẻ. Anh tham gia FIFA U-20 World Cup 2015 cùng đội tuyển U-20 Bồ Đào Nha, ghi đc bốn bàn ở vòng bảng[1] cứu đội bóng lọt được vào đến tứ kết của giải đấu.[2][3] Trước đây, tại giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu 2014, anh biến thành cầu thủ thứ nhất ghi đc 4 bàn thắng trong 1 trận đấu (trận thắng U-19 Hungary 6-1 tại vòng bảng). Giải đấu đó, U-19 Bồ Đào Nha giành ngôi á quân sau khoản thời gian để thua U-19 Đức với tỷ số ít nhất trong trận chung cuộc.[4]

Ngày 8 tháng chín năm 2015, tại trận đấu thứ nhất ở tuyển U-21, Silva đã ghi một hat-trick trong tầm 19 phút (không tính thời khắc nghỉ giữa 2 hiệp) cứu Bồ Đào Nha thắng Albania với tỷ số 6-1.[5] Anh đc giảng dạy viên trưởng đội tuyển non sông Fernando Santos tập trung lần thứ nhất vào trong ngày 26 tháng tám,[6] ra sân ở hiệp hai trong trận giao hữu với Gibraltar vào trong ngày 1 tháng chín.[7]

Silva ghi bàn thắng thứ nhất cho đội tuyển non sông vào trong ngày 7 tháng 10 năm 2016, góp công vào thắng lợi 6-0 trước Andorra tại vòng sơ loại World Cup 2018.[8] Ba ngày sau, anh ghi hat-trick vào lưới đội tuyển hòn đảo Faroe, trở cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử vẻ vang bóng đá Bồ Đào Nha từng ghi ba bàn ở 1 trận đấu.[9]

Silva đc gọi lên tuyển tham gia FIFA Confederations Cup 2017, [10] and trình làng giải đấu khi vào sân thay người Ricardo Quaresma trong tám phút ở đầu cuối của trận hòa 2-2 với Mexico tại vòng bảng.[11] Anh có bàn thắng thứ nhất tại giải vào trong ngày 24 tháng sáu, khi đá trọn 90 phút trong trận thắng 4-0 trước New Zealand.[12] Ở trận tranh hạng ba, Silva đá hỏng một quả phạt đền ngay đầu trận đấu, Bồ Đào Nha đã thắng Mexico 2-1 sau hiệp phụ.[13]

Trong tháng 5 năm 2018, Silva đã có rất nhiều tên trong list tham gia FIFA World Cup 2018 của đội tuyển Bồ Đào Nha.[14] Cuối thời điểm tháng đó, anh đã ghi bàn thắng thứ 1000 trong lịch sử vẻ vang đội tuyển non sông trong hiệp một trận giao hữu với Tunisia ở Braga.[15]

Anh có trận đấu trình làng World Cup vào trong ngày 15 tháng sáu, khi vào sân từ ghế dự bị thay Gonçalo Guedes ở phút thứ 80 của trận hoà 3-3 với Tây Ban Nha tại vòng bảng.[16]

Đo đạc công danh và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 22 tháng năm năm 2022 [17]
Số trận and số bàn thắng theo CLB, mùa giải and giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp non sông[a] Cúp liên đoàn[b] Âu Lục Khác Tổng số
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Porto B 2013–14 Segunda Liga 21 3 21 3
2014–15 Segunda Liga 34 7 34 7
2015–16 Segunda Liga 29 14 29 14
Tổng số 84 24 84 24
Porto 2015–16 Primeira Liga 9 1 2 2 3 14 3
2016–17 Primeira Liga 32 16 2 10[c] 5 44 21
Tổng số 41 17 4 2 3 10 5 58 24
Milan 2017–18 Serie A 24 2 2 14[d] 8 40 10
2019–20 Serie A 1 1 0
Tổng số 25 2 2 14 8 41 10
Sevilla (mượn) 2018–19 La Liga 27 9 4 2 8[d] 1[e] 40 11
Eintracht Frankfurt (mượn) 2019–20 Bundesliga 25 12 3 2 9[d] 2 37 16
Eintracht Frankfurt 2020–21 Bundesliga 32 28 2 1 34 29
Tổng số 57 40 5 3 9 2 71 45
Tổng công danh và sự nghiệp 234 92 15 7 3 41 15 1 294 114
  1. ^ Ra sân tại Taça de Portugal, Coppa Italia, Copa del Rey and DFB-Pokal
  2. ^ Ra sân tại Taça da Liga
  3. ^ Ra sân tại UEFA Champions League
  4. ^ aăâRa sân tại UEFA Europa League
  5. ^ Ra sân tại Supercopa de España

Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 27 tháng sáu năm 2022. [18]
Đội tuyển non sông Năm Trận Bàn
23px Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha 2016 5 4
2017 13 7
2018 13 4
2019 3 0
2020 3 1
2022 6 0
Tổng số 43 16

Bàn thắng nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 10 tháng chín năm 2018
# Ngày Khu vực Đối thủ Bàn thắng Tác dụng Giải đấu
1 7 tháng 10 năm 2016 Sân hoạt động Municipal, Aveiro, Bồ Đào Nha 22px Flag of Andorra.svg Andorra 6–0 6–0 Vòng sơ loại World Cup 2018
2 10 tháng 10 năm 2016 Tórsvøllur, Tórshavn, Hòn đảo Faroe 21px Flag of the Faroe Islands.svg Hòn đảo Faroe 1–0 6–0
3 2–0
4 3–0
5 25 tháng ba năm 2017 Sân hoạt động Ánh nắng, Lisbon, Bồ Đào Nha 23px Flag of Hungary.svg Hungary 1–0 3–0
6 3 tháng sáu năm 2017 Sân hoạt động António Coimbra da Mota, Estoril, Bồ Đào Nha 23px Flag of Cyprus.svg Síp 4–0 4–0 Giao hữu
7 9 tháng sáu năm 2017 Sân hoạt động Skonto, Riga, Latvia 23px Flag of Estonia.svg Estonia 3–0 3–0 Vòng sơ loại World Cup 2018
8 24 tháng sáu năm 2017 Sân hoạt động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga 23px Flag of New Zealand.svg New Zealand 3–0 4–0 Confed Cup 2017
9 3 tháng chín năm 2017 Groupama Arena, Budapest, Hungary 23px Flag of Hungary.svg Hungary 1–0 1–0 Vòng sơ loại World Cup 2018
10 7 tháng 10 năm 2017 Sân hoạt động non sông Andorra, Andorra la Vella, Andorra 22px Flag of Andorra.svg Andorra 2–0 2–0
11 10 tháng 10 năm 2017 Sân hoạt động Ánh nắng, Lisbon, Bồ Đào Nha 15px Flag of Switzerland %28Pantone%29.svg Thụy Sĩ 2–0 2–0
12 28 tháng năm năm 2018 Sân hoạt động Braga, Braga, Bồ Đào Nha 23px Flag of Tunisia.svg Tunisia 1–0 2–2 Giao hữu
13 10 tháng chín năm 2018 Sân hoạt động Ánh nắng, Lisbon, Bồ Đào Nha 23px Flag of Italy.svg Ý 1–0 1–0 UEFA Nations League 2018–19
14 11 tháng 10 năm 2018 Sân hoạt động Śląski, Chorzów, Ba Lan 23px Flag of Poland.svg Ba Lan 1–1 3–2
15 20 tháng 11 năm 2018 Sân hoạt động D. Afonso Henriques, Guimarães, Bồ Đào Nha 23px Flag of Poland.svg Ba Lan 1–0 1–1
16 5 tháng chín năm 2020 Sân hoạt động Dragão, Porto, Bồ Đào Nha 23px Flag of Croatia.svg Croatia 4–1 4–1 UEFA Nations League 2020–21

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Portugal stay perfect, Colombia sneak through”. FIFA. 6 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 11 tháng chín năm 2015.

  2. ^ “Porto pair propelling Portugal’s title tilt”. FIFA. 10 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 11 tháng chín năm 2015.
  3. ^ “Brazil through as profligate Portugal pay the penalty”. FIFA. 14 tháng sáu năm 2015. Truy vấn ngày 11 tháng chín năm 2015.
  4. ^ “Germany secure second title in Hungary”. UEFA. 2014. Truy vấn ngày 16 tháng năm năm 2016.
  5. ^ “Caminhada rumo à Polónia começa com goleada” [Road to Poland starts with routing] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rádio Renascença. 8 tháng chín năm 2015. Truy vấn ngày 11 tháng chín năm 2015.
  6. ^ Kundert, Tom (28 tháng tám năm 2016). “André Silva và João Cancelo called into Portugal squad”. PortuGOAL. Truy vấn ngày 29 tháng tám năm 2016.
  7. ^ Griffee, Will (1 tháng chín năm 2016). “Portugal 5–0 Gibraltar: European champions hammer minnows as Nani scores brace”. Daily Mail. Truy vấn ngày 5 tháng chín năm 2016.
  8. ^ Wood, David (7 tháng 10 năm 2016). “Portugal 6–0 Andorra: Cristiano Ronaldo nets FOUR in rout as minnows have two men sent off for kicking Real Madrid star during World Cup qualifier”. Daily Mail. Truy vấn ngày 9 tháng 10 năm 2016.
  9. ^ “Chapa seis às Ilhas Faroé com “hat-trick” de André Silva” [Six past the Faroe Islands with André Silva hat-trick] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rádio e Televisão de Portugal. 11 tháng 10 năm 2016. Truy vấn ngày 18 tháng sáu năm 2017.
  10. ^ “Éder fica fora dos convocados, Beto e José Sá nas escolhas” [Éder out of squad, Beto and José Sá picked]. O Jogo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 25 tháng năm năm 2017. Truy vấn ngày 17 tháng sáu năm 2017.
  11. ^ Ames, Nick (18 tháng sáu năm 2017). “Héctor Moreno’s stoppage-time header earns Mexico draw against Portugal”. The Guardian. Truy vấn ngày 18 tháng sáu năm 2017.
  12. ^ “Portugal cruise into semi-finals”. FIFA. 24 tháng sáu năm 2017. Truy vấn ngày 24 tháng sáu năm 2017.
  13. ^ “Portugal come from behind lớn finish third”. FIFA. 2 tháng bảy năm 2017. Truy vấn ngày 15 tháng chín năm 2017.
  14. ^ “Nearly half Portugal’s Euro squad lớn miss World Cup”. Special Broadcasting Service. 17 tháng năm năm 2018. Truy vấn ngày 17 tháng năm năm 2018.
  15. ^ “André Silva marcou o 1.000.º golo da história da seleção portuguesa” [André Silva scored 1.000th goal in the history of the Portuguese national team] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). SAPO. 28 tháng năm năm 2018. Truy vấn ngày 28 tháng năm năm 2018.
  16. ^ “Ronaldo illuminates stellar draw with Spain”. FIFA. 15 tháng sáu năm 2018. Truy vấn ngày 16 tháng sáu năm 2018.
  17. ^ “André Silva”. Soccerway. Truy vấn ngày 22 tháng năm năm 2016.
  18. ^ “André Silva”. European Football. Truy vấn ngày 19 tháng sáu năm 2017.

Bài Viết: André Silva (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995) là gì? Chi tiết về André Silva (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995) mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Vạn niên thanh (định hướng) là gì? Chi tiết về Vạn niên thanh (định hướng) mới nhất 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.