Alan Shearer là gì? Chi tiết về Alan Shearer mới nhất 2022

Alan Shearer
Alan Shearer 2008.jpg
Thông báo cá thể
Tên rất đầy đủ Alan Shearer[1]
Ngày sinh 13 tháng tám, 1970 (50 tuổi)[1]
Địa điểm sinh Gosforth, Newcastle trên sông Tyne, England
Độ cao 1,83 m (6 ft 0 in)
Chỗ đứng Tiền đạo
Công danh cầu thủ trẻ
000 Wallsend Boys Club
1986–1988 CLB Southampton
Công danh cầu thủ bài bản và chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1988–1992 CLB Southampton 158 (43)
1992–1996 Blackburn Rovers 171 (130)
1996–2006 Newcastle United 405 (206)
Tổng số 733 (379)
Đội tuyển giang sơn
1990–1992 U21-Anh 11 (13)
1992 England B 1 (0)
1992–2000 Anh 63 (30)
Những đội đã đào tạo
2009 Newcastle United
* Số trận ra sân and số bàn thắng ở câu lạc bộ bài bản và chuyên nghiệp chỉ được xem cho giải giang sơn

Alan Shearer (Sinh 13 tháng tám năm 1970 ở Gosforth, Northumberland) là một cầu thủ bóng đá người Anh, Alan Shearer từng khoác áo đội tuyển Anh and 3 câu lạc bộ Premiership của Anh: Southampton, Blackburn Rovers and Newcastle United.

Alan Shearer cao 1m83 – vị trí đặt sở thích là tiền đạo. Ngày này anh đã giã từ công danh sự nghiệp sân cỏ của bản thân mình and đang khiến comment viên bóng đá cho đài Đài truyền hình BBC.

Anh đã có lúc từng rất thắng lợi ở cấp CLB and đội tuyển giang sơn, Alan đã biến thành 1 trong các tiền đạo ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời buổi. Anh đã ghi tổng số 422 bàn thắng ở CLB and giang sơn, bình quân khoảng tầm 25 bàn trong một mùa giải suốt 17 mùa giải anh thông qua. Anh đã lập kỉ lục ghi bàn tại Premier league với 261 bàn. Anh đã giã từ công danh sự nghiệp tranh tài nước ngoài từ Euro 2000 and vẫn liên tiếp chơi bóng tại Newcastle United cho tới lúc vào khoảng thời gian 2006 anh phải giã từ công danh sự nghiệp sân cỏ do chấn thương.

Công danh cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Southampton (1988-1992)[sửa | sửa mã nguồn]

Ở tuổi 15, Alan Shearer là nam sinh của trường Wallsend Boys Club, anh đã trở nên CLB Newcastle loại thoát ra khỏi đội trẻ với vị trị thủ môn! (Alan cũng thừa nhận rằng anh chỉ giữ gôn trong 1 ngắn ngày mà thôi). Tiếp đến, anh đã chuyển hẳn sang học đá bóng ở CLB Southampton. Anh lộ diện trên sân lần thứ nhất khi anh là cầu thủ dự bị đc vào sân trong trận đấu với Chelsea vào 26 tháng ba năm 1988. And một tháng sau, anh phải làm những tờ báo phải giật tít tên anh lên trang bìa khi anh lần đầu ra sân ở đội hình chính của CLB và cũng đã ghi 1 hat – trick vào lưới Arsenal vào trong ngày 9 tháng tư năm 1988. Khi ấy, Alan chỉ mới 17 tuổi and 240 ngày. Anh đã phá kỉ lục cộng đồng về cầu thủ lớp trẻ nhất lập hat – trick tại giải bóng đá bài bản và chuyên nghiệp, kỉ lục đó đã đc giữ cho tới lúc Alan phá tan nó là 30 năm bởi Jimmy Greaves. Alan Shearer đã kết thúc mùa giải 1987–88 với 3 bàn thắng trong 5 trận đấu.

Mặc dù là đầy hứa hẹn về một mai sau bùng cháy, nhưng Shearer chỉ được đánh giá là kẻ thế vai ở đội hình một, chưa ghi tới 10 bàn cho Southampton ở mùa giải 87-86. Nhưng lúc tới mùa giải 89 – 90 anh mới biểu hiện đc mình bằng sự việc tranh tài cực hay tại Southampton trong 2 mùa giải liền (1889 – 1990, 1990 – 1991). Sự biểu hiện của anh rất là thắng lợi của anh đã được rất nhiều fan của CLB công nhận and anh đc bình chọn là cầu thủ hay nhất của Southampton năm 1991 dù rằng chỉ ghi đc 4 bàn trong 36 trận. Chính vì vậy anh vẫn chưa là tay săn bàn của Southampton cho tới mùa giải 1991 – 1992 anh đã ghi đc 13 bàn trong 41 trận. Nhờ vậy, anh đc gọi vào đội tuyển Anh and được rất nhiều sự để ý của rất nhiều CLB ở P khác, rất có khả năng kể tới là Manchester United.

Blackburn Rovers (1992-1996)[sửa | sửa mã nguồn]

đào tạo viên đội tuyển Anh thời này đã chọn Alan vào đội hình để tranh tài tại chung Euro 1992 nhưng Alan chỉ tranh tài được 1 trận (trận gặp Pháp) and chẳng ghi đc bàn nào. And đội tuyển Anh phải tạm dừng ở vòng đấu bảng lúc đặt thua Thụy Điển 2-1.

Thế nhưng, kỹ năng của Alan Shearer đã đc chắc chắn tại Ewood Park khi đào tạo viên Kenny Dalglish đã mua anh từ Southampton với mức giá 3,3 triệu bảng. Trong những lúc đó thì ngài Alex Ferguson cũng đã và đang muốn có Alan Shearer nhưng mọi nỗ lực cố gắng của ông đều thất bại.

Alan đã biến thành cầu thủ chính của đội tuyển Anh trong quãng mùa giải ấy, anh đã ghi bàn vào lưới Tiệp Khắc trong trận Anh thằng Tiệp Khắc 4-0 tại vòng sơ loại World Cup 1994. Mùa giải thứ nhất của anh tại Balckburn bị hòn đảo lộn tổng thể, anh gần như là không tranh tài ở nửa mùa giải đầu (đến cả những trận khác tại vòng CK World Cup 1994) vì chấn thương dây chằng trong trận đấu với Leeds United vào 26 tháng 12 năm 1992. Nhưng anh đã ghi 16 bàn thắng trong 21 trận còn sót lại. Mùa giải kết thúc với tương đối đầy đủ vất vả, anh bị cần phải vắng mặt Một trong những trận đấu chính tại vòng sơ loại World Cup 1994 and điều này đã khiến đội tuyển Anh có nhưng hiệu quả đáng tuyệt vọng.

Tại Balckburn, anh đã ghi 31 bàn trong 40 trận ở mùa giải 1993-1994, CLB đã kết thúc mùa giải ở đoạn thứ 2, sau MU. Anh cũng rất được danh dự đc Review là cầu thủ của năm. Vương Quốc Anh đã đã không còn tấn tới vòng CK WC 1994 nhưng Alan cũng ghi 3 bàn cho đội tuyển Anh.

Với việc lộ diện của Chris Sutton ở mùa giải 94 – 95 đã hình thành một cặp tiền đạo tiến công cực mạnh với Alan Shearer ở Blackburn với biệt danh “the SAS” – Shearer Và Sutton. Alan đã ghi 34 bàn trong 42 trận đấu and cứu Blackburn đã đạt được thương hiệu vô địch P vào chính xác ngày sau cùng của mùa giải. Đây là thương hiệu to nhất trong công danh sự nghiệp tranh tài CLB của anh. Anh cũng rất được góp mặt vào cúp C1 cùng Blackburn nhưng ClB lại bị loại bỏ bởi Trelleborgs FF của Thụy Điển.

Mùa giải 95 – 96 là mùa giải tuyệt vọng của Blackburn khi chỉ được đứng thứ 7 ở trên bảng xếp thứ hạng P. Alan ghi đc 31 bàn trong 35 trận đấu. Anh phải vắng mặt trong 3 trận đáu còn sót lại ở P vì chấn thương nhưng anh vẫn cùng đội tuyển Anh trong Euro 1996.

Newcastle United (1996-2006)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Euro 1996, Alan định đầu quân cho MU nhưng tiếp nối anh chuyển hẳn sang tranh tài cho Newcastle United với mức giá chuyển nhượng ủy quyền là 15M bảng Anh, người đưa anh về Newcastle United không người nào khác đó là Kevin Keegan. Alan đã biến thành cầu thủ đắt giá nhất vào thời đặc điểm này.

Mùa giải thứ nhất của anh tại Newcastle, anh ghi 25 bàn trong 31 trận tại P, anh cũng tồn tại đc thương hiệu PFA Player of the Year. Anh cứu Newcastle có vị trí đặt đầu tuần ở trên bảng xếp thứ hạng dù rằng anh vắng mặt ở nhiều trận đấu vì chấn thương. Sau mùa giải ấy thì Keegan đã đi xa and không chỉ vậy là Kenny Dalglish.

Tháng bảy năm 1997, Shearer phải trải sang 1 cuộc giải phẫu mắt cá chân khi anh bị chấn thương ở trận gặp Everton, chấn thương đó đã đa số tinh giảm anh ra sân ở mùa giải 1997 – 1998. Anh chỉ ghi đc 2 bàn thắng trong 17 trận and Newcastle phải ở đoạn thứ 13 tại bảng xếp thứ hạng. Nhưng dù sao thì Newcastle cũng tấn tới trận chung cuộc cúp FA Cup cùng Arsenal nhưng để thua 2 – 0. Shearer đã suýt ghi bàn trong trận đó,

Ở nửa cuối mùa giải, cả dân cư mạng đã bất đồng quan điểm quanh việc Shearer đá vào đầu Neil Lennon ở trận gặp Leicester City. Anh màu đỏ may mắn không trở nên hình phạt của The Football Association sau thời điểm rình rập đe dọa sẽ từ bỏ công danh sự nghiệp tranh tài nước ngoài nếu anh vẫn bị ức chế về tai nạn đáng tiếc này.

Mùa giải 1998 – 1999, anh đã ghi 14 trong 30 trân đấu. Anh cứu Newcastle đợt thứ 2 liên tục vào CK cúp FA gặp MU nhưng để thua 2 – 0 tại sân Wembley. Mùa giải kết thúc, Newcastle đứng ở đoạn thứ 13. Kenny Dalglish đã trở nên loại bỏ sau mùa giải tuyệt vọng đó and thay vào vị trí đặt đào tạo viên là Ruud Gullit.

Shearer lại bị chấn thương and mất cả mùa giải 2000 – 2001, anh từ giã công danh sự nghiệp tranh tài nước ngoài sau Euro 2000. Anh chỉ ghi đc 5 bàn trong 19 trận đấu. Mùa giải sau có vẻ như khá hơn khi anh ghi đc 23 bàn trong 37 trận đấu and kết thúc mùa giải ở đoạn thứ 4 (cao nhất từ 1997 đến lúc này). Anh đc gọi vào đội tuyển Anh and những fan đều mong chờ anh sẽ vào đội tuyển nhưng anh đã phủ nhận lời gọi ấy.

Mùa giải 2002 – 2003, Newcastle quay trở lại UEFA Champions League. CLB đã để thua cả 3 trận thứ nhất tại vòng bảng nhưng đã thắng cả 3 trận còn sót lại để vào vòng 2 (đội bóng duy nhất làm đc điều này từ trước cho đến thời điểm bây giờ). Tổng số suốt mùa giải anh ghi 17 bàn trong 35 trận đấu.

Tiếp đến, Newcastle có thêm thời cơ quay trở lại Champions League proper năm 2003 nhưng lại đánh mất thời cơ đó khi thua Partizan Belgrade trên chấm penalties and Shearer đã đá hỏng quả penalty của anh. Mùa giải 2004 – 2005, anh chỉ ghi đc 7 bàn trong 28 trận.

Shearer cho thấy thêm rằng anh sẽ giã từ công danh sự nghiệp sân cỏ khi mùa giải 2004–05 kết thúc nhưng bên dưới sự ảnh hưởng tác động của đào tạo viên Graeme Souness đã đã đưa ra quyết định liên tiếp chơi bóng vừa đào tạo cầu thủ cho tới lúc mùa giải sau kết thúc. Trong time đó, anh đã phá kỉ lục của Jackie Milburn ghi 200 bàn thắng cho Newcastle. Anh đã ghi bàn thắng thứ 201 vào lưới Portsmouth vào trong ngày 4 tháng hai năm 2006. Một số nguồn tin đã không đồng ý điều này khi họ nhận định rằng Milburn đã ghi tổng 238 bàn Một trong những trận ở thế chiến đầu tuần nhưng dù sao đi nữa thì Shearer cũng tranh tài tiết kiệm hơn 5 trận.

17 tháng tư năm 2006, khi chỉ từ 3 trận đấu sau cùng của công danh sự nghiệp đá bóng, anh đã phải bật khóc khi anh đã không còn tranh tài đc nữa vì bị chấn thương đầu gối trong trận thắng Sunderland 4 -1, anh ghi bàn thứ 206. Ngày 22 tháng tư năm 2006, anh chính thức giã từ nghiệp sân cỏ. Mùa giải sau cùng anh ghi 10 bàn trong 32 trận đấu.

Ngày 11 tháng năm năm 2006, Newcastle đã gặp Celtic, một trận đầu dành để tôn lên lịch sử một thời của Newcaslte tại sân St James’ Park. Bên cạnh đó, còn những vị khách danh dự khác là Steve Watson, Gary Speed, Rob Lee and Les Ferdinand. Anh đã không còn tranh tài trong trận đó nhưng anh đã khai trận cho trận đấu and đá thắng lợi trong loạt sút 11m cứu Newcastle giành thành công. Mọi tiền lấy đc từ trận đấu đều đc quyên vào hội từ thiện North East, NSPCC (Shearer cầm đầu) and quỹ Bobby Moore.

Shearer cũng rất được chọn vào OBE trong tháng 6 năm 2001 and the Freedom of the City of Newcastle upon Tyne trong tháng 3.

Đo lường những bàn thắng trong số trận bóng nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

# Thời khắc Xung quanh vị trí Đối thủ cạnh tranh Bàn thắng Công dụng Giải đấu
1 19 tháng hai,1992 London 23px Flag of France.svg Pháp 1-0 2-0 Giao hữu
2 18 tháng 11,1992 London 23px Flag of Turkey.svg Thổ Nhĩ Kỳ 2-0 4-0 Vòng sơ loại World Cup 1994
3 17 tháng năm,1994 London 23px Flag of Greece.svg Hy Lạp 5-0 5-0 Giao hữu
4 7 tháng chín,1994 London 23px Flag of the United States.svg Đất nước Hoa Kỳ 1-0 2-0 Giao hữu
5 7 tháng chín,1994 London 23px Flag of the United States.svg Đất nước Hoa Kỳ 2-0 2-0 Giao hữu
6 8 tháng sáu,1996 London 15px Flag of Switzerland %28Pantone%29.svg Thụy Sĩ 1-0 1-1 Euro 1996
7 15 tháng sáu,1996 London 23px Flag of Scotland.svg Scotland 1-0 2-0 Euro 1996
8 18 tháng sáu,1996 London 23px Flag of the Netherlands.svg Hà Lan 1-0 4-1 Euro 1996
9 18 tháng sáu,1996 London 23px Flag of the Netherlands.svg Hà Lan 3-0 4-1 Euro 1996
10 29 tháng sáu,1996 London 23px Flag of Germany.svg Đức 1-0 1-1 Euro 1996
11 1 tháng chín,1996 Moldova 23px Flag of Moldova.svg Moldova 3-0 3-0 Vòng sơ loại World Cup 1998
12 9 tháng 10,1996 London 23px Flag of Poland.svg Ba Lan 1-1 2-1 Vòng sơ loại World Cup 1998
13 9 tháng 10,1996 London 23px Flag of Poland.svg Ba Lan 2-1 2-1 Vòng sơ loại World Cup 1998
14 30 tháng tư,1997 London 23px Flag of Georgia.svg Gruzia 2-0 2-0 Vòng sơ loại World Cup 1998
15 31 tháng năm,1997 Chorzów, Ba Lan 23px Flag of Poland.svg Ba Lan 1-0 2-0 Vòng sơ loại World Cup 1998
16 5 tháng chín,1997 Montpellier, Pháp 23px Flag of France.svg Pháp 1-0 1-0 Tournoi de France
17 22 tháng tư,1998 London 23px Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha 1-0 3-0 Giao hữu
18 22 tháng tư,1998 London 23px Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha 3-0 3-0 Giao hữu
19 15 tháng sáu,1998 Marseille, Pháp 23px Flag of Tunisia.svg Tunisia 1-0 2-0 World Cup 1998
20 30 tháng sáu,1998 Saint-Étienne, Pháp 23px Flag of Argentina.svg Argentina 1-1 2-2 World Cup 1998
21 5 tháng chín,1998 Stockholm, Thụy Điển 23px Flag of Sweden.svg Thụy Điển 1-0 1-2 Vòng sơ loại Euro 2000
22 14 tháng 10,1998 T.p Luxembourg 23px Luxembourg 2-0 3-0 Vòng sơ loại Euro 2000
23 28 tháng tư,1999 Budapest, Hungary 23px Flag of Hungary.svg Hungary 1-0 1-1 Giao hữu
24 9 tháng sáu,1999 Sofia, Bulgaria 23px Flag of Bulgaria.svg Bulgaria 1-1 1-1 Vòng sơ loại Euro 2000
25 4 tháng chín,1999 London 23px Luxembourg 1-0 6-0 Vòng sơ loại Euro 2000
26 4 tháng chín,1999 London 23px Luxembourg 2-0 6-0 Vòng sơ loại Euro 2000
27 4 tháng chín,1999 London 23px Luxembourg 4-0 6-0 Vòng sơ loại Euro 2000
28 10 tháng 10,1999 Sunderland, Anh 23px Flag of Belgium %28civil%29.svg Bỉ 1-0 2-1 Giao hữu
29 17 tháng sáu,2000 Charleroi, Bỉ 23px Flag of Germany.svg Đức 1-0 1-0 Euro 2000
30 20 tháng sáu,2000 Charleroi, Bỉ 23px Flag of Romania.svg România 1-1 2-3 Euro 2000

Đào tạo viên[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Đất nước Từ thời điểm ngày Đến ngày Đo lường
Tr Th H T % Th
Newcastle United Anh Anh 1 tháng tư, 2009 24 tháng năm, 2009 &00000000000000080000008 &00000000000000010000001 &00000000000000020000002 &00000000000000050000005 &000000000000001250000012,50

Kỉ lục qua từng mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Câu lạc bộ Số trận
tại League
Số trận tại tổng thể những giải   Bàn thắng League Tổng bàn thắng
1987-88 Southampton 5 5 3 3
1988-89 Southampton 10 10
1989-90 Southampton 26 35 3 5
1990-91 Southampton 36 48 4 14
1991-92 Southampton 41 60 13 21
Tổng 118 158 23 43
1992-93 Blackburn Rovers 21 26 16 22
1993-94 Blackburn Rovers 40 48 31 34
1994-95 Blackburn Rovers 42 49 34 37
1995-96 Blackburn Rovers 35 48 31 37
Tổng 138 171 112 130
1996-97 Newcastle
United
31 40 25 28
1997-98 Newcastle
United
17 23 2 7
1998-99 Newcastle
United
30 40 14 21
1999-00 Newcastle
United
37 50 23 30
2000-01 Newcastle
United
19 23 5 7
2001-02 Newcastle
United
37 46 23 27
2002-03 Newcastle
United

35

48
17 25
2003-04 Newcastle
United
37 51 22 28
2004-05 Newcastle
United
28
42
7 19
2005-06 Newcastle
United
32
41
10 14
Tổng 303
404
148 206
Tổng số 559
733
283 379

Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Blackburn Rovers

  • Ngoại hạng Anh: 1994-95
  • Ngoại hạng Anh: 1993-94(Á quân)

Newcastle United

  • Ngoại hạng Anh: 1996-97(Á quân)
  • Cúp FA:1997-98(Á quân),1998-99(Á quân)

Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Ạnh

  • UEFA European Championship huy chương đồng: 1996[2]

U21 Anh

  • Toulon Tournament: 1991[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ aă

    Hugman, Barry J. (2005). The PFA Premier Football League Players’ Records 1946–2005. Queen Anne Press. tr. 556. ISBN 1-85291-665-6.

  2. ^ https://rg.ru/2016/07/05/na-etom-evro-medali-vruchat-tolko-pobediteliam-i-finalistam.html
  3. ^ “19th Maurice Revello Tournament: Awards”. festival-foot-espoirs.com. Truy vấn ngày 20 tháng ba năm 2020.
  • England profile
  • FootballDatabase profile
  • Profile Tàng trữ 2006-02-13 tại Wayback Machine at 4thegame.com
  • Profile Tàng trữ 2006-07-18 tại Wayback Machine at premierleague.com

Kết nối ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Shearer9.com – unofficial fansite
  • tháng hai năm 2006 radio interview with the Đài truyền hình BBC
  • Alan Shearer Centre, Alan supports St Cuthberts Care Project
  • Interview with Alan Shearer at vidFootball.com

Bản mẫu:Kết nối bài chất lượng cực tốt

Bài Viết: Alan Shearer là gì? Chi tiết về Alan Shearer mới nhất 2022

Nguồn: blogsongkhoe365.vn

Xem:  Top 10 địa chỉ trồng răng implant uy tín nhất quận Cầu Giấy, Hà Nội mới 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.